Tăng tốc chuyển đổi xanh

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Trước những biến động khó lường của thời tiết, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường về phát triển bền vững, ngành tôm buộc phải đẩy mạnh chuyển đổi sang sản xuất xanh, tuần hoàn. Đây là con đường tất yếu để đáp ứng chuẩn mực chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Tăng trưởng và thách thức

Giai đoạn 2021 – 2025, dù diện tích nuôi không biến động lớn nhưng sản lượng tôm Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định. Từ năm 2022 đến nay, sản lượng luôn đạt trên 1 triệu tấn/năm. Riêng năm 2025, bất chấp những khó khăn về thời tiết và dịch bệnh, sản lượng tôm cả nước ước đạt 1,29 triệu tấn, tăng 6,1% so năm 2024; trong đó, TTCT chiếm khoảng 1 triệu tấn và tôm sú khoảng 300.000 tấn. Kết quả này góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2025 ước đạt 4,6 tỷ USD, tăng gần 20% so năm trước.

Tuy vậy, đằng sau bức tranh tăng trưởng là hàng loạt thách thức ngày càng hiện hữu. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, dịch bệnh trên tôm nước lợ vẫn diễn biến phức tạp; công tác quan trắc, cảnh báo môi trường tại một số vùng nuôi còn hạn chế; chi phí đầu vào duy trì ở mức cao; tiến độ cấp mã số cơ sở nuôi còn chậm. Bên cạnh các khó khăn nội tại, ngành tôm còn chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ nguồn cung giá rẻ của Ecuador, Ấn Độ, cùng các rào cản thuế quan, phi thuế quan và yêu cầu ngày càng khắt khe về minh bạch nguồn gốc, tiêu chuẩn bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, việc thực hành sản xuất theo các chuẩn mực quốc tế như ASC, BAP, GlobalG.A.P,… cần được triển khai sớm, thực chất và hiệu quả, nhằm giảm rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành tôm Việt Nam.

Những “sắc xanh” đầu tiên

Trong lộ trình chuyển đổi sang sản xuất xanh, lĩnh vực nuôi tôm đã ghi nhận những chuyển động tích cực ban đầu, nổi bật là Cà Mau – thủ phủ tôm của cả nước – địa phương đi đầu với nhiều mô hình cụ thể và hiệu quả. Trên tổng diện tích hơn 435.000 ha nuôi tôm toàn tỉnh, hiện có gần 200.000 ha áp dụng hình thức nuôi quảng canh kết hợp, với các mô hình tiêu biểu như tôm – rừng, tôm – lúa, tôm – cua – cá,… Đáng chú ý, trong số này đã có hàng chục nghìn ha đạt các chứng nhận quốc tế uy tín như ASC, BAP, Naturland, EU Organic,… góp phần nâng cao giá trị và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Bên cạnh các mô hình truyền thống theo hướng sinh thái, Cà Mau thời gian gần đây còn thử nghiệm thành công mô hình nuôi tôm siêu thâm canh tuần hoàn, ít thay nước (RAS-IMTA). Theo đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ Cà Mau, giai đoạn 1 của dự án với quy mô 100 ha đã đạt kết quả tích cực, tỷ lệ sống của tôm đạt 85 – 90%, năng suất 40 – 50 tấn/ha/vụ, mật độ nuôi 250 – 300 con/m²; sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế như ASC và BAP.

Mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp giảm khoảng 50% chi phí nhân công, điện, nước và hóa chất xử lý, mà còn góp phần giải quyết bài toán môi trường, khi nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải, phù hợp với định hướng tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở kết quả bước đầu, Cà Mau đặt mục tiêu mở rộng mô hình lên 1.500 ha trong thời gian tới; trong đó, Công ty TNHH De Heus dự kiến đồng hành nhân rộng 1.000 ha giai đoạn 2025 – 2030.

Ngoài Cà Mau, thời gian qua, nhiều doanh nghiệp, trang trại và hộ nuôi trên cả nước cũng đã chủ động áp dụng các giải pháp và tiến bộ khoa học – công nghệ vào nuôi tôm theo hướng sản xuất xanh. Có thể kể đến các mô hình nuôi tuần hoàn nước, ứng dụng công nghệ vi sinh, cải tiến hệ thống quạt tạo ôxy nhằm tiết kiệm điện năng, quản lý chặt chẽ thức ăn để hạn chế dư thừa – nguyên nhân phát sinh khí nhà kính, xây dựng hầm biogas xử lý chất thải, sử dụng máy ép phân tôm ủ làm phân bón,…

Quy trình sinh học MP BIO của Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú là một điển hình. Quy trình này không sử dụng Chlorine trong xử lý nước, thay vào đó là bổ sung các chủng vi sinh đối kháng, chú trọng tạo nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng từ tảo và biofloc, đồng thời lên men thức ăn bằng vi sinh vật nhằm nâng cao khả năng hấp thụ và chuyển hóa dinh dưỡng của tôm. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp nuôi tôm quy mô lớn tại TP Cần Thơ còn tính đến phương án bù trừ phát thải khí nhà kính trong quá trình sản xuất thông qua trồng rừng phòng hộ ven biển, nếu được địa phương chấp thuận chủ trương và hỗ trợ về thủ tục.

Xanh để “vượt dốc” và tăng tốc

Ở cấp độ vĩ mô, Đảng, Nhà nước cùng các bộ, ngành và địa phương đã thể hiện rõ quyết tâm thúc đẩy phát triển bền vững ngành thủy sản thông qua việc ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng. Các chính sách này không chỉ tạo hành lang pháp lý, mà còn định hướng cụ thể cho quá trình xanh hóa ngành tôm, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm như: tăng cường kiểm soát dịch bệnh, giảm sử dụng kháng sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm; khuyến khích ứng dụng công nghệ theo hướng kinh tế tuần hoàn; xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm trong sản xuất; thúc đẩy sử dụng công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính.

Sản xuất xanh trong nuôi tôm là một hệ thống sản xuất dựa trên các nguyên tắc bền vững, bao gồm: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe con người và động vật, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

Đồng thời, các chương trình nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cũng được đẩy mạnh, bao gồm sản xuất thức ăn thủy sản từ phụ phẩm nông nghiệp, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường nuôi, phát triển các quy trình nuôi tuần hoàn nước và tái chế phụ phẩm tôm thành các sản phẩm giá trị gia tăng.

Theo PGS.TS Võ Nam Sơn, Trường Đại học Cần Thơ, khâu nuôi hiện vẫn là mắt xích yếu nhất và đáng lo ngại nhất trong hành trình xanh hóa chuỗi giá trị ngành tôm, đặc biệt ở các tiêu chí liên quan đến phát thải khí nhà kính, tuần hoàn và tái chế. Để một sản phẩm tôm đạt tiêu chí “xanh”, đòi hỏi tất cả các khâu trong chuỗi giá trị đều phải đáp ứng các chuẩn mực bền vững.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những tín hiệu tích cực khi việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong nuôi tôm đã bước đầu góp phần giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện hiệu quả sản xuất. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tích hợp đồng bộ các giải pháp này vào từng mô hình nuôi cụ thể, nhằm vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa đáp ứng các yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững.

2026 là năm mở đầu cho giai đoạn 2026 – 2030 – giai đoạn tăng tốc, bứt phá nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển thủy sản bền vững. Theo định hướng này, toàn ngành thủy sản sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương các quy định của Luật Thủy sản năm 2017, cùng các nhiệm vụ và giải pháp trong Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trọng tâm là phát triển kinh tế thủy sản theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Để đạt được mục tiêu đó, ngành thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng cần tiếp tục chuyển đổi từ tư duy sản xuất đơn thuần sang tư duy kinh tế thủy sản, từ tăng trưởng đơn giá trị sang tăng trưởng tích hợp đa giá trị.

Xuân Trường

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!