Linh hoạt vượt sóng thị trường

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Bức tranh ngành tôm 2026 được đánh giá phụ thuộc nhiều biến số, đặc biệt là hàng rào thuế quan, rào cản kỹ thuật, xu hướng tiêu dùng và cơ cấu thị trường.

Đối diện áp lực

Ngành thủy sản Việt Nam nói chung và con tôm nói riêng bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động thích ứng và phát triển bền vững, sau một giai đoạn tái cơ cấu mạnh mẽ từ sản xuất đến thị trường. Trọng tâm không chỉ là tăng trưởng kim ngạch, mà còn là phát triển xanh, minh bạch, có trách nhiệm với môi trường, nguồn lợi và cộng đồng ngư dân.

Ngành thủy sản Việt Nam vẫn hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng trong năm 2026. Ảnh: Lê Minh/Báo ảnh Việt Nam

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định, năm 2026 sẽ là giai đoạn đầy thách thức đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong nửa đầu năm, khi các rào cản thuế quan và kỹ thuật gia tăng. Cụ thể, ngành thủy sản sẽ chịu tác động từ kết quả rà soát thuế chống bán phá giá tôm của Mỹ, dự kiến công bố vào tháng 2/2026, với khả năng không thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, từ năm 2026, nhiều chuỗi bán lẻ lớn tại EU và Anh yêu cầu tôm nước ấm phải được gây ngất hoàn toàn (thường bằng điện) trước khi ngâm đá, thay thế phương pháp sốc lạnh truyền thống. Quy định này đã được các nhà bán lẻ như Tesco, Marks & Spencer, Sainsbury’s hay Waitrose đưa vào chính sách mua hàng, gắn trực tiếp với điều kiện duy trì tư cách nhà cung cấp.

Điểm khác biệt của rào cản này là không thể xử lý bằng giấy tờ hay chứng thư đơn thuần. Doanh nghiệp buộc phải đầu tư lại công nghệ thu hoạch và sơ chế, thay đổi quy trình vận hành và kiểm soát chặt chẽ hơn khâu vận chuyển tôm sống. Chi phí đầu tư cho một dây chuyền gây ngất điện là không nhỏ trong bối cảnh biên lợi nhuận ngành tôm ngày càng bị thu hẹp.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), phúc lợi động vật không còn là câu chuyện hình ảnh hay trách nhiệm xã hội thuần túy, mà đang trở thành điều kiện tham gia cuộc chơi tại thị trường EU. Với ngành tôm Việt Nam, thách thức không chỉ nằm ở chi phí đầu tư, mà ở việc làm sao để quá trình chuyển đổi không tạo ra khoảng cách quá lớn giữa doanh nghiệp lớn và khối SMEs, lực lượng chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu.

Mặt khác, thị trường thế giới phục hồi chậm, xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng khiến nhu cầu tiêu thụ thiếu ổn định. Chi phí đầu vào, logistics,… vẫn cao, trong khi các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, môi trường ngày càng khắt khe. Cạnh tranh từ các quốc gia sản xuất lớn như Ecuador, Ấn Độ tiếp tục gây sức ép lên giá và thị phần, buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc và nâng cao giá trị gia tăng.

VASEP nhận định, các chính sách thuế quan, thương mại và rào cản kỹ thuật của Mỹ có thể tiếp tục khiến các nhà xuất khẩu trên thế giới thận trọng và tính đến phương án chuyển dịch thị trường. Xu hướng này đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn tại các thị trường khác như EU, Trung Quốc, ASEAN và Trung Đông.

Chủ động, linh hoạt

Trước những thách thức nêu trên, ngành thủy sản nói chung và sản phẩm tôm nói riêng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là nâng cao khả năng đáp ứng các hàng rào kỹ thuật, đa dạng hóa thị trường và đẩy mạnh phát triển sản phẩm chế biến sâu.

Nuôi tôm công nghệ cao, tăng khả năng ứng phó biến động xuất khẩu. Ảnh: Việt Úc

Theo TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, tiêu thụ thủy sản toàn cầu giai đoạn 2025 – 2034 được dự báo tăng khoảng 11%/năm, với xu hướng ưu tiên các sản phẩm bền vững, tiện lợi và thân thiện môi trường. Đây là phân khúc Việt Nam có lợi thế lớn, đặc biệt trong bối cảnh đã ký kết 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và tiếp tục mở rộng mạng lưới FTA.

Các doanh nghiệp cần tận dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ về thuế, phí, lãi suất; chủ động xây dựng phương án chia sẻ chi phí thuế quan với đối tác, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thực hành ESG nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ở góc độ đối ngoại, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng cho rằng, thế giới đang chứng kiến 03 xu hướng lớn gồm xanh hóa, số hóa và bảo đảm an ninh lương thực gắn với an ninh địa chính trị. Trong thời gian qua, nhiều quốc gia đã đề xuất hợp tác sâu hơn với Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm nguồn cung lương thực – thực phẩm, mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản.

Giữ vững thị trường Mỹ

Ở góc nhìn khác, dù xuất khẩu thủy sản sang Mỹ trong năm 2025 chỉ tăng nhẹ khoảng 4,9%, đạt hơn 1,9 tỷ USD, nhưng thị trường này vẫn chiếm gần 17% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Do đó, Mỹ vẫn là thị trường chiến lược mà doanh nghiệp Việt Nam khó có thể thay thế trong ngắn hạn.

Theo ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Sao Ta, những rủi ro đối với con tôm Việt Nam ở thị trường Mỹ là hiện hữu và không khó để nhận diện. Thuế đối ứng đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ, trong đó có con tôm hiện là 20%. Nhưng thực ra mức thuế này cao thấp chưa nói lên tất cả, cái quan tâm hơn là so sánh mức thuế cùng mặt hàng với các đối thủ lớn. Hiện giờ mức thuế tôm của Ấn Độ (chiếm gần 40% lượng tôm nhập vào Mỹ) là 50%, nên rõ ràng là lợi thế cho tôm Việt Nam vẫn còn.

Ông Lực nhận định, điều đáng lo nhất chính là thuế AD với mức phán quyết sơ bộ đối với tôm Việt Nam lên đến 35,29%, cao hơn rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Tất nhiên, thuế AD đối với tôm Việt Nam ở mức nào sẽ phải còn chờ phán quyết cuối cùng của Bộ Thương mại Mỹ (DOC), dự kiến diễn ra vào ngày 16/2 tới.

Để giữ vững vị thế cho con tôm Việt Nam tại thị trường Mỹ, ông Võ Văn Phục, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy sản sạch Việt Nam (Vinacleanfood) cho rằng, các doanh nghiệp cần tập trung bán mạnh vào phân khúc thị phần cao cấp và các sản phẩm tôm không bị thuế AD và VCD (thuế chống trợ cấp) tác động như tôm bao bột, tôm chiên, tôm phối chế,… vốn là lợi thế của các doanh nghiệp tôm Việt Nam.

Trong khi đó, ông Hồ Quốc Lực lưu ý, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược hoạt động theo hướng bền vững để tăng lợi thế, sức cạnh tranh. Hoạch định sách lược thị trường linh hoạt, dự phòng rủi ro ở bất cứ thị trường nào, nhất là Mỹ. Luôn coi trọng việc truy xuất nguồn gốc, các quy chế như: Lao động, môi trường, giảm phát thải và giải pháp cân bằng phát thải.

Dù năm 2026 được dự báo còn nhiều khó khăn, song với các giải pháp căn cơ đang được triển khai, ngành thủy sản Việt Nam vẫn hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng, tạo nền tảng cho mục tiêu xuất khẩu 14 – 16 tỷ USD vào năm 2030.

Năm 2026 được dự báo là phép thử về bản lĩnh chiến lược của doanh nghiệp tôm. Khả năng trụ vững của ngành sẽ phụ thuộc vào việc khai thác hiệu quả các thị trường ổn định, kiểm soát rủi ro tại Mỹ và nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cảnh Nghi

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!