T3, 24/02/2026 08:31

Tăng trưởng xanh từ nuôi biển xa bờ

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Trong bối cảnh nguồn lợi ven bờ suy giảm và yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững ngày càng cấp thiết, nuôi biển xa bờ đang trở thành hướng đi tất yếu của ngành thủy sản Việt Nam, mở ra không gian tăng trưởng mới với quy mô lớn, công nghệ cao và thân thiện môi trường.

Tiềm năng lớn

Những năm gần đây, thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển bền vững, nuôi biển được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của ngành thủy sản. Không chỉ đóng góp vào an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho cư dân ven biển, nuôi biển còn là giải pháp căn cơ để chuyển dịch sinh kế cho ngư dân, giảm áp lực khai thác lên nguồn lợi tự nhiên đang suy kiệt.

Theo Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, chỉ cần khai thác khoảng 0,1% diện tích vùng đặc quyền kinh tế, Việt Nam đã có thể hình thành vùng nuôi biển rộng khoảng 1.000 km², cho sản lượng ước tính lên tới 10 triệu tấn cá biển mỗi năm, chưa kể các loài hải sản khác. Con số này cho thấy dư địa phát triển của nuôi biển còn rất lớn, nếu được đầu tư bài bản và khai thác hiệu quả.

Bên cạnh lợi thế về diện tích, Việt Nam còn có nhiều vùng vịnh kín gió, độ sâu phù hợp, môi trường nước thuận lợi cho việc phát triển các mô hình nuôi biển công nghiệp và nuôi xa bờ quy mô lớn. Các nghiên cứu bước đầu cho thấy, diện tích có khả năng phát triển nuôi biển của cả nước lên tới hơn 500.000 ha, phân bố dọc theo các tỉnh ven biển từ Bắc vào Nam. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các vùng nuôi tập trung, áp dụng công nghệ hiện đại, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái biển.

Về thể chế, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến thủy sản và kinh tế biển ngày càng được hoàn thiện. Luật Thủy sản, Luật Quy hoạch, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045,… đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phát triển nuôi biển theo hướng hiện đại, bền vững. Cùng với đó, đội ngũ ngư dân ven biển giàu kinh nghiệm, am hiểu điều kiện tự nhiên và gắn bó lâu đời với biển là nguồn lực xã hội quý giá, có thể đóng vai trò nòng cốt trong quá trình chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nuôi biển Việt Nam hiện tập trung vào bốn nhóm đối tượng chính gồm cá biển, rong biển, nhuyễn thể và tôm hùm. Hoạt động nuôi biển đã và đang phát triển mạnh tại nhiều địa phương ven biển. Năm 2025, tổng sản lượng nuôi biển ước đạt 859,2 nghìn tấn, tăng 8,8% so năm 2024; giá trị xuất khẩu đạt khoảng 900 triệu USD/năm. Các vùng nuôi trọng điểm như Quảng Ninh, Khánh Hòa, Đắk Lắk, An Giang,… đang từng bước hình thành các mô hình nuôi có quy mô và giá trị cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Những kết quả này cho thấy nuôi biển, đặc biệt là nuôi biển xa bờ, đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ, nhất là trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm thủy sản chất lượng cao, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng và thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng.

Nhiều rào cản

Mặc dù có nhiều tiềm năng và cơ hội, hoạt động nuôi biển của Việt Nam hiện vẫn đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi sang mô hình nuôi công nghiệp, hiện đại và xa bờ.

Thực tế cho thấy, nuôi biển hiện nay vẫn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, chưa đạt trình độ công nghiệp như ở nhiều quốc gia phát triển. Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ nuôi xa bờ còn hạn chế; việc ứng dụng khoa học – công nghệ, tự động hóa, số hóa trong nuôi biển chưa phổ biến. Theo thống kê, cả nước hiện có hơn 6.500 cơ sở nuôi ven bờ, trong khi số cơ sở nuôi xa bờ mới chỉ dừng ở con số 27. Điều này cho thấy không gian biển xa bờ – nơi có môi trường thông thoáng, ít xung đột sử dụng – vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.

Một trong những rào cản lớn hiện nay là cơ chế giao, cho thuê mặt nước biển còn chậm và thiếu ổn định, khiến doanh nghiệp và người dân chưa yên tâm đầu tư dài hạn. Ông Nguyễn Bá Ngọc, Giám đốc Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông (Khánh Hòa), cho biết đầu tư nuôi biển xa bờ đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Hệ thống lồng nuôi phải chịu được sóng gió cấp cao, đi kèm là chi phí về nhân lực, hậu cần, vận hành và bảo hiểm. Tuy nhiên, khi quyền sử dụng mặt nước chưa được giao ổn định, doanh nghiệp khó có thể mạnh dạn đầu tư quy mô lớn.

“Khu vực quy hoạch nuôi biển hở đều là những vùng không được che chắn, phải đối diện trực tiếp với sóng gió. Đây là thách thức lớn nhất đối với người nuôi biển xa bờ. Trong khi đó, dù nghị định về giao mặt nước cho nuôi trồng thủy sản đã ban hành, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn còn chậm”, ông Ngọc chia sẻ.

Ngoài ra, nguồn giống chất lượng cao, thức ăn công nghiệp phù hợp, hệ thống quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh,… vẫn là những mắt xích yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính bền vững của nuôi biển.

Xu thế tất yếu

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), đến tháng 6/2025, có tới 35,5% quần thể cá biển trên thế giới đang bị khai thác quá mức; chỉ còn 64,5% duy trì ở mức bền vững. Trước nguy cơ suy kiệt nguồn lợi biển, nhiều quốc gia đã thay đổi tư duy phát triển, giảm dần khai thác, tăng cường nuôi biển công nghiệp hóa, quy mô lớn, xa bờ, có kiểm soát chặt chẽ về môi trường và truy xuất nguồn gốc. Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó.

Khảo sát của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra rằng, Việt Nam có nhiều vùng nước sâu, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi biển. Các vịnh kín, nước sâu gần bờ ở Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Ninh hay các vùng biển phía Nam như An Giang, Cà Mau đặc biệt phù hợp để nuôi các loài có giá trị kinh tế cao như cá bớp, cá chim, cá hồng, tôm hùm.

Ở góc độ quản lý, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, khẳng định: Đây là thời điểm then chốt để chuyển dịch mạnh sang nuôi biển bền vững, nhất là trong bối cảnh ngành khai thác thủy sản đang được yêu cầu giảm dần để bảo vệ nguồn lợi.

Theo ông Luân, để nuôi biển phát triển đúng hướng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các địa phương đẩy nhanh tiến độ giao mặt nước nuôi trồng thủy sản, đồng thời hoàn thiện bộ tiêu chuẩn quốc gia về nuôi biển, dự kiến ban hành vào năm 2026. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thu hút đầu tư, triển khai bảo hiểm nuôi biển và quản lý môi trường hiệu quả hơn.

Song song với đó, các địa phương ven biển cần thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý không gian biển, bảo đảm nuôi biển phát triển phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia. Trọng tâm là ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi từ lồng bè truyền thống sang lồng nuôi công nghiệp chịu lực cao; đầu tư hệ thống nuôi xa bờ, công nghệ quan trắc môi trường, giống chất lượng cao; khuyến khích các mô hình nuôi tuần hoàn, thân thiện môi trường.

Về phía doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi, cần chú trọng phát triển chuỗi giá trị, tăng cường liên kết từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm nuôi biển, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, cần hình thành các chuỗi cung ứng dịch vụ hậu cần đồng bộ, tích hợp nuôi biển với bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái và các ngành kinh tế biển khác nhằm gia tăng giá trị.

Cuối cùng, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng về nuôi biển có trách nhiệm, quản lý dịch bệnh và bảo vệ môi trường biển là yếu tố then chốt để ngành nuôi biển Việt Nam phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững và phù hợp với xu thế quốc tế.

Lê Loan

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!