(TSVN) – Việc liên tục giữ vững tốc độ tăng trưởng cũng như vị thế trên thị trường thế giới cho thấy, các doanh nghiệp ngành tôm vẫn không hề chủ quan, mà luôn không ngừng củng cố, nâng cao sức mạnh nội tại, tận dụng tốt các cơ hội nhằm tăng sức cạnh tranh, giảm rủi ro trước các rào cản thuế quan và phi thuế quan để hướng đến mục tiêu minh bạch và phát triển bền vững.
Đây cũng chính là một trong những sức mạnh nội tại mạnh mẽ, giúp ngành tôm không những khắc phục được điểm cốt lõi về yếu giá thành, mà còn vượt qua cả những rào cản thuế quan và phi thuế quan. Có lẽ ai cũng biết, giá thành tôm Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới, nên giá bán vì thế cũng cao hơn các nước khác, nhưng sản phẩm tôm Việt Nam vẫn được người tiêu dùng thế giới chấp nhận. Đó là nhờ ở kỹ thuật và tay nghề chế biến. Các mặt hàng chế biến sâu như: tôm Nobashi, tôm tẩm bột tươi và chiên, cùng với các mặt hàng phối chế khác để gia tăng giá trị sản phẩm đã giúp sản phẩm tôm Việt Nam giảm áp lực cạnh tranh về giá vì đa phần các nước cung cấp khác như Ấn Độ, Bangladesh hay Ecuador chưa có được tay nghề chế biến cao như Việt Nam.
Một số doanh nghiệp lớn của ngành tôm cũng đã đầu tư, vận hành khá thành công trại nuôi tôm đạt chuẩn ASC để chủ động gia tăng nguồn nguyên liệu đạt chất lượng có thể cung cấp cho thị trường EU, Mỹ, Nhật… và cũng đáp ứng mục tiêu truy xuất thuận lợi của thị trường này. Đồng thời, nhờ vào uy tín trên thương trường, nên con tôm Việt Nam được nhiều khách hàng biết đến và có cơ hội tiếp cận các kênh tiêu thụ cao cấp, có giá bán cao.
Theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, các doanh nghiệp ngành tôm Việt Nam làm rất tốt việc thuyết phục khách hàng EU về chất lượng và an toàn thực phẩm nên vị thế tôm Việt Nam ngày càng nâng cao ở thị trường này. Do đó, để củng cố sức mạnh này, chúng ta cần tạo ra nhiều hơn nữa nguồn tôm nguyên liệu đạt các tiêu chuẩn do EU đặt ra.
Những phân khúc thị trường cao cấp tại EU, Mỹ hay Nhật Bản đều có được giá tốt và ổn định, trong khi đây cũng chính là lợi thế lớn của các doanh nghiệp chế biến tôm Việt Nam. Cũng chính nhờ lợi thế này đã giúp doanh nghiệp lẫn người nuôi tôm vượt qua những thời khắc khó khăn nhất của thị trường để duy trì vị thế trong top 3 cho ngành tôm, đưa sản phẩm tôm Việt Nam có mặt được tại hầu hết thị trường khó tính như: EU, Nhật Bản, Mỹ và cả siêu thị của Hàn Quốc. Trong đó, thị trường Nhật không chỉ có các yêu cầu cao về an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc… như những thị trường khác, mà còn ở tính thẩm mỹ trong từng sản phẩm, nhưng tôm Việt Nam vẫn chiếm thị phần áp đảo ở thị trường này.
Đây không còn là sự lựa chọn mà là tất yếu không thể đảo ngược đối với doanh nghiệp khi hầu hết các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc… đều đã đang siết các chặt các tiêu chuẩn về môi trường – xã hội – quản trị (ESG). Tuy nhiên, nói như ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, các tiêu chuẩn trên đều rất khó, nhưng nếu doanh nghiệp đạt được thì sức tiêu thụ sẽ rất lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ rất cao. Hay nói một cách khác, một khi doanh nghiệp luyện thành công “bí kíp” này, cùng với một giá thành sản phẩm hợp lý sẽ đủ sức cạnh tranh với mọi đối thủ trên mọi thị trường khó tính nhất hiện nay. Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều khách hàng EU yêu cầu sản phẩm tôm phải có chứng nhận ASC – chứng nhận toàn cầu đối với việc nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm. Trong khi hiện tại, chỉ một số ít doanh nghiệp lớn, có khả năng đầu tư trại nuôi đạt tiêu chuẩn này, nên dù đã có lợi thế FTA hay sản phẩm giá trị gia tăng nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tôm Việt Nam tại EU vẫn rất chậm.
Trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng siết chặt, việc chủ động chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ và nâng cao quản trị tuân thủ được coi là giải pháp thiết yếu giúp doanh nghiệp giảm rủi ro pháp lý, duy trì niềm tin với nhà nhập khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài. Việc chuẩn hóa dữ liệu phục vụ các kỳ rà soát thuế, xây dựng hệ thống truy xuất đồng bộ và nâng cao tính minh bạch trong giao dịch là rất quan trọng. Việc tối ưu danh mục sản phẩm theo hướng tập trung vào các mặt hàng ít chịu thuế chống bán phá giá cũng là giải pháp giúp duy trì dòng xuất khẩu trong bối cảnh biến động. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cũng sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào Mỹ và phân tán rủi ro thuế quan.
Một vấn đề nữa góp phần làm nên sức mạnh nội tại cho ngành tôm, đó là phát triển theo hướng xanh. Đây cũng chính là con đường ngành tôm đang đi tới đế nâng cao tính cạnh tranh không chỉ bằng chất lượng, mà còn ở sự minh bạch và bền vững. Cũng theo ông Hồ Quốc Lực, chỉ có con đường xanh hóa mới giúp ngành tôm vượt qua các rào cản kỹ thuật và môi trường ngày càng khắt khe của thị trườn và quan trọng hơn là xây dựng được niềm tin lâu dài với người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế. Từ hướng đi đó, các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ngày càng chuyển đổi mạnh mẽ hơn theo hướng tiết kiệm, nâng cao giá trị, giảm dấu chân carbon, thông qua các hành động cụ thể, như: tiết kiệm năng lượng, nước và nguyên liệu, áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn; xử lý nước thải đạt chuẩn cao, tái sử dụng phụ phẩm (vỏ tôm, đầu tôm) cho thức ăn chăn nuôi, phân bón, chitosan, collagen…; giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời áp mái; đảm bảo tiêu chuẩn lao động, an sinh xã hội, xây dựng môi trường làm việc nhân văn và bền vững.
Lợi thế về chế biến sản phẩm giá trị gia tăng cũng đặt ra một thách thức khác, đó chính là chuẩn hóa nguồn tôm nguyên liệu. Đây là một thách thức không nhỏ, khi mà phần lớn các mô hình nuôi tôm đều có diện tích nhỏ lẻ, rất khó cho việc áp dụng kho học công nghệ nuôi mới, đặc biệt là khâu số hóa để minh bạch dữ liệu vùng nuôi.
Theo bà Cao Xuân Thu Vân – Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, ngành thủy sản Việt Nam không còn ở giai đoạn cạnh tranh đơn thuần bằng sản lượng hay ưu thế về chi phí lao động mà đã thực sự bước vào cuộc đua của sự minh bạch, trách nhiệm và tính bền vững cốt lõi. Đây là con đường tất yếu bởi các thị trường nhập khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam liên tục thiết lập các rào cản kỹ thuật phi thuế quan nghiêm ngặt. Do đó, con đường tất yếu là chuyển đổi số, để sản phẩm thủy sản Việt Nam khi đến tay người tiêu dùng trên toàn thế giới không chỉ mang theo hương vị giá trị tài nguyên bản địa, mà còn có dữ liệu minh bạch về nguồn gốc, xuất xứ…
Để phát huy tối đa sức mạnh nội tại nhằm đưa xuất khẩu tôm Việt Nam tiến xa hơn, bền vững hơn cần nâng cao hơn nữa chính sách quản lý chất lượng trong nuôi trồng thủy sản để tạo ra ngày càng nhiều nguồn tôm nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn từ các nước nhập khẩu. Bên cạnh đó, cần tổ chức lại sản xuất theo mô hình hợp tác gắn với liên kết chuỗi và áp dụng số hóa, để giảm tối đa số hộ nuôi nhỏ lẻ. Chỉ có như vậy, mới giúp tăng thêm sản lượng tôm đạt các tiêu chí của chuỗi cung ứng toàn cầu, đáp ứng đầy đủ yêu cầu truy xuất nguồn gốc nhằm nâng tầm con tôm Việt. Một yếu tố không kém phần quan trọng là sự chung tay của tất cả các doanh nghiệp để đảm bảo ủy tín về chất lượng, an toàn thực phẩm, trách nhiệm của nhà cung cấp cùng nhau xây dựng thương hiệu tôm Việt Nam tại thị trường trọng điểm.
Xuân Trường