(TSVN) – Dự án Đối tác chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ – Việt Nam (FAST-V) với nguồn viện trợ không hoàn lại hơn 15,2 triệu USD được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các điểm nghẽn về con giống, công nghệ, liên kết chuỗi và thị trường, tạo nền tảng để cá rô phi trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD trong những năm tới.
Ngày 4/8, tại Hà Nội, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Tổ chức Cứu trợ Thế giới Lutheran (LWR) tổ chức hội thảo tham vấn Dự thảo Văn kiện Dự án Đối tác chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ – Việt Nam (FAST-V). Hội thảo nhằm lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế để hoàn thiện văn kiện trước khi trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét phê duyệt.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Hồng Ngọc
Phát biểu tại hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Nhữ Văn Cẩn cho biết, ngành thủy sản đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợi và phát triển bền vững. Theo mục tiêu đến năm 2030, sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ đạt khoảng 7 triệu tấn, chiếm 70% tổng sản lượng toàn ngành.
Trong định hướng này, bên cạnh các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ, cá tra và nuôi biển, cá rô phi được xác định là ngành hàng có nhiều dư địa phát triển nhờ khả năng thích nghi tốt, thời gian nuôi ngắn, chi phí sản xuất cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguồn thực phẩm giàu protein.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, sản lượng cá rô phi của Việt Nam đã tăng từ khoảng 188.000 tấn năm 2015 lên 420.000 tấn vào năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 99 triệu USD, trong đó riêng thị trường Hoa Kỳ đạt 53 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi tiếp tục đạt 68,7 triệu USD, tăng 65,9% so với cùng kỳ năm trước.
Lãnh đạo Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhận định, nếu tháo gỡ hiệu quả các nút thắt hiện nay, cá rô phi hoàn toàn có thể trở thành ngành hàng xuất khẩu đạt kim ngạch tỷ USD trong tương lai.
Đại diện Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Benjamin Henderson, Tùy viên Nông nghiệp, đánh giá cao những thành tựu của ngành thủy sản Việt Nam và cho rằng, hợp tác giữa hai nước không chỉ dừng ở hoạt động thương mại mà còn hướng tới chia sẻ khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất. Dự án FAST-V thể hiện cam kết hỗ trợ phát triển ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng năng suất, cạnh tranh và bền vững thông qua nâng cao chất lượng con giống, tối ưu hóa thức ăn và đáp ứng các tiêu chuẩn chế biến phục vụ xuất khẩu.
Ảnh minh họa.
Tại hội thảo, các đại biểu cũng tập trung phân tích những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của ngành hàng cá rô phi. Đáng chú ý, năng lực sản xuất giống chất lượng cao hiện mới đáp ứng dưới 30% nhu cầu; hệ thống giống chưa đồng bộ và thiếu các dòng cá thích nghi với điều kiện nước lợ.
Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng thức ăn và quản lý dinh dưỡng còn hạn chế, việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong sản xuất chưa phổ biến khiến chi phí nuôi cao, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.
Các ý kiến cũng chỉ ra sản xuất còn phân tán, liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp chế biến và thị trường chưa chặt chẽ; khả năng tiếp cận vốn, thị trường và các chứng nhận quốc tế của nhiều cơ sở nuôi còn hạn chế. Đồng thời, ngành hàng vẫn thiếu một định hướng phát triển tổng thể để kết nối đồng bộ từ khâu sản xuất giống, thức ăn, nuôi thương phẩm đến chế biến và mở rộng thị trường.
Theo ông Nic Richards, Trưởng Văn phòng đại diện LWR tại Việt Nam, Giám đốc Dự án FAST-V, cá rô phi là đối tượng nuôi có khả năng chuyển hóa thức ăn hiệu quả và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy hiệu quả nuôi giữa các hộ còn chênh lệch lớn do khác biệt về quản lý kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và áp dụng quy trình nuôi chuẩn. Việc nâng cao năng lực quản lý sản xuất sẽ góp phần cải thiện lợi nhuận cho người nuôi cũng như doanh nghiệp.
Dự án FAST-V là dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại trị giá 15,26 triệu USD do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tài trợ thông qua Chương trình Thực phẩm vì Sự tiến bộ. Dự án được triển khai trong giai đoạn 2026-2030 tại 8 tỉnh, thành phố trọng điểm gồm Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau.
Theo dự thảo, dự án gồm 6 hợp phần trọng tâm, tập trung phát triển hệ thống giống và thức ăn chất lượng cao; xây dựng mô hình trình diễn và mở rộng vùng nuôi; nâng cao năng lực hợp tác xã và tổ chức ngành hàng; cải thiện khả năng tiếp cận tài chính; hỗ trợ đổi mới công nghệ và phát triển thị trường, nâng cao năng lực xuất khẩu.
Dự án đặt mục tiêu đạt sản lượng thương mại tích lũy khoảng 1,21 triệu tấn, doanh thu 1,25 tỷ USD; đồng thời giảm hệ số chuyển đổi thức ăn xuống còn 1,2 và nâng tỷ lệ sống của cá nuôi lên 90%.
Kết luận hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Nhữ Văn Cẩn đề nghị nhóm chuyên gia tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý để hoàn thiện văn kiện. Theo đó, dự án cần bám sát nhu cầu thực tiễn của ngành hàng cá rô phi, tập trung xử lý các điểm nghẽn cốt lõi, bảo đảm tính khả thi, khả năng nhân rộng và phát huy hiệu quả nguồn lực hợp tác quốc tế nhằm xây dựng chuỗi giá trị cá rô phi phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
Thùy Khánh