Phấn đấu làm chủ công nghệ gen thế hệ mới trong chọn tạo giống thủy sản

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Việc làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen và phát triển các giống thủy sản chủ lực có năng suất cao, kháng bệnh, thích ứng biến đổi khí hậu được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường giai đoạn đến năm 2045.

Ngày 31/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường. Kế hoạch đặt mục tiêu đưa công nghiệp sinh học trở thành nền tảng quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, góp phần phát triển nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững. Đồng thời góp phần quan trọng vào tăng trưởng của ngành, tăng trưởng của nền kinh tế “hai con số”, bảo đảm tự chủ về công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Phát triển công nghệ sinh học sẽ giúp nâng cao chất lượng con giống thủy sản. Ảnh: CTV

Đối với lĩnh vực thủy sản, Kế hoạch xác định ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen cùng các công nghệ chiến lược để sản xuất bộ KIT phát hiện nhanh, kiểm định, kiểm dịch và đánh giá chất lượng con giống. Trong đó, sẽ hướng tới việc chọn tạo các giống thủy sản chủ lực tích hợp nhiều đặc tính ưu việt, bao gồm năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như các điều kiện môi trường bất lợi. Song song với đó, sẽ đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất vắc-xin, chế phẩm sinh học phục vụ giám sát, chẩn đoán, phòng chống dịch bệnh và chuyển giao rộng rãi vào sản xuất.

Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường cũng đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ sinh sản nhằm cải thiện chất lượng, số lượng và quy mô sản xuất giống thủy sản chủ lực; đồng thời phát triển các công nghệ phát hiện nhanh tác nhân gây bệnh, nhất là các bệnh mới phát sinh, kiểm soát dư lượng chất cấm trong thực phẩm có nguồn gốc động vật và tạo ra các chế phẩm sinh học giúp tăng sức đề kháng, nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của thủy sản nuôi.

Về vấn đề bảo quản, chế biến, sau thu hoạch, Kế hoạch hướng tới ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại để kiểm định an toàn thực phẩm, giám sát các yếu tố làm suy giảm chất lượng nông sản, đồng thời phát triển các chế phẩm sinh học phục vụ sơ chế, bảo quản và tận dụng phụ phẩm chế biến nhằm gia tăng giá trị cho ngành thủy sản.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chính phủ sẽ đầu tư xây dựng và nâng cấp 5 phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong đó có phòng thí nghiệm công nghệ gen và tế bào động vật thủy sản. Phấn đấu đến năm 2045, cả 5 phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế, là phòng thí nghiệm tham chiếu quốc gia của từng lĩnh vực để làm chủ công nghệ, đưa các sản phẩm công nghệ sinh học vào phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản, kinh doanh, thương mại trong và ngoài nước. Đồng thời thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm kiểm định chất lượng nông, lâm, thủy sản đạt chuẩn quốc tế và phát triển hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ sinh học tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đầu tư hạ tầng nghiên cứu, Kế hoạch cũng thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp sinh học trong lĩnh vực giống thủy sản, vắc-xin, thuốc thú y sinh học, KIT chẩn đoán và các chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng, bảo quản và chế biến thủy sản. Chính phủ đồng thời khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia để đẩy nhanh quá trình thương mại hóa các sản phẩm công nghệ sinh học.

Theo lộ trình, giai đoạn 2026 – 2030 sẽ tập trung phát triển các công nghệ chiến lược, xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, mở rộng quy mô doanh nghiệp công nghiệp sinh học và giảm phụ thuộc vào sản phẩm nhập khẩu. Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ sinh học thế hệ mới, hình thành ngành công nghiệp sinh học có sức cạnh tranh cao, từng bước trở thành trung tâm sản xuất và dịch vụ công nghệ sinh học của khu vực châu Á.

Nguồn kinh phí thực hiện các nhiệm vụ thuộc Kế hoạch được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay từ các tổ chức tín dụng, tài trợ quốc tế và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác. Trong đó, khuyến khích nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp hoặc đầu tư theo hình thức công tư để phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường.

Phan Thảo

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài