(TSVN) – Phòng bệnh cho cá chép không chỉ bắt đầu khi cá được đưa vào ao nuôi mà cần được thực hiện xuyên suốt từ cá bố mẹ, sản xuất và ương dưỡng con giống đến giai đoạn nuôi thương phẩm.
Nguồn nước cấp vào ao cho qua lưới lọc hai lớp (kích cỡ mắt lưới 40µm). Nước phải được xử lý đảm bảo chất lượng theo quy định.
Cá bố mẹ có nguồn gốc rõ ràng, đạt yêu cầu về chất lượng, khỏe mạnh, không có dấu hiệu mắc bệnh. Đáp ứng quy định tại Thông tư 16/2026/TTBNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản và Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản và các quy định hiện hành.
Sử dụng thức ăn không mang mầm bệnh, đủ hàm lượng đạm đáp ứng nhu cầu ở từng giai đoạn phát triển của cá. Các loại thức ăn tổng hợp và tự chế biến phải được bảo quản tốt, tránh để nhiễm nấm mốc và nhiễm khuẩn; thức ăn tươi sống phải được xử lý, đảm bảo không mang mầm bệnh khi cho cá ăn.
Sử dụng thuốc, thức ăn, sản phẩm xử lý môi trường theo quy định hiện hành.
Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định. Ảnh: ST
Nước cấp vào ao nuôi phải được xử lý đảm bảo chất lượng (như cho qua lưới lọc hai lớp, khử trùng bằng hóa chất, chế phẩm được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản), đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Các bể đẻ, bể vây phải được vệ sinh, khử trùng trước và sau khi sử dụng.
Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng bể và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn sinh học khác như quản lý người, động vật, phương tiện… ra vào khu vực sản xuất.
Thực hiện quản lý và kiểm soát lượng thức ăn cho cá hợp lý nhằm hạn chế thất thoát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước ao nuôi; thường xuyên theo dõi, kiểm tra để kịp thời điều chỉnh khẩu phần ăn phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng.
Các loại thức ăn tổng hợp cần bảo quản tốt, tránh bị nhiễm nấm mốc và nhiễm khuẩn; thức ăn tươi sống, tự chế biến cần phải được xử lý đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi cho ăn.
Bổ sung các loại vitamin, khoáng… để tăng sức đề kháng cho cá trước và trong thời kỳ bệnh thường xảy ra.
Kiểm tra các yếu tố môi trường ao/bể ương: Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) (hằng ngày); pH, độ kiềm (2 ngày/lần); H2S, NH3/NH4 (1 tuần/lần) để có biện pháp xử lý thích hợp khi có dấu hiệu bất thường; Đối với các thông số môi trường vượt ngưỡng cho phép, thực hiện xử lý theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản.
Thực hiện chế độ thay nước phù hợp cho ao/bể ương hằng ngày nhằm cải thiện chất lượng nước, bảo đảm môi trường sống ổn định và thuận lợi cho cá sinh trưởng.
Khi cá có dấu hiệu bất thường (như bỏ ăn hay bơi lội mất định hướng) phải thông báo ngay cho cho nhân viên thú y xã và UBND xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y nơi gần nhất để kiểm tra, kịp thời xác định tác nhân gây bệnh.
Các bệnh do virus, không có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy chỉ áp dụng biện pháp phòng bệnh. Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y. Có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian (các loài chim ăn cá) có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi.
Việc xử lý cá bệnh và cá chết phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y.
Con giống trước khi xuất bán phải thực hiện kiểm dịch theo quy định, đảm bảo không nhiễm mầm bệnh.
Khuyến khích sử dụng vaccine phòng bệnh theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y.
Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định.
Mật độ thả nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo mật độ thích hợp cho cá phát triển tốt.
Sử dụng lượng thức ăn vừa đủ, tránh dư thừa giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước, hạn chế sự phát triển và truyền lây của tác nhân gây bệnh.
Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày (màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ; kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại) để phát hiện sớm, xử lý kịp thời, đặc biệt cá ở giai đoạn dưới 5 tháng tuổi và giai đoạn chuyển mùa; có thể lấy mẫu định kỳ cá ở giai đoạn này để kiểm tra tác nhân gây bệnh trên mang, bóng hơi, gan, thận và cơ.
Tăng cường chăm sóc, sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng, bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chế phẩm sinh học… giúp nâng cao sức đề kháng cho cá.
Chủ cơ sở nuôi cần theo dõi nắm thông tin về tình hình dịch bệnh xảy ra trong khu vực/vùng, tình hình dự báo thời tiết và cảnh báo dịch bệnh của cơ quan chuyên môn để có biện pháp chủ động phòng tránh dịch bệnh.
Quản lý tốt môi trường nước trong ao/bể nuôi, thực hiện khử trùng định kỳ bằng hóa chất, chế phẩm được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản), đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Bố trí ao/bể trữ nước và xử lý khử trùng nước trước khi cấp cho ao nuôi; khử trùng nguồn nước trước khi thải ra ngoài môi trường.
Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng ao/bể/lồng, bè nuôi và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học khác trong quá trình nuôi như quản lý con người, động vật, phương tiện ra vào khu vực ao nuôi. Thực hiện vệ sinh, khử trùng khi ra, vào cơ sở. Có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian (các loài chim ăn cá) có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi.
Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao/bể/lồng/bè bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng vôi bột, hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y.
Trường hợp ao/bể xảy ra bệnh ở vụ trước, cơ sở nuôi phải xử lý nước đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi xả thải.
Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y dùng trongnthú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y.
Nguyễn Hằng