(TSVN) – Xuất hiện nhiều ở giai đoạn nắng nóng và môi trường ao nuôi biến động, bệnh do vi khuẩn Streptococcus có thể khiến cá rô phi chết nhanh nếu không được phát hiện kịp thời.
Nguyên nhân
Bệnh xuất huyết, bệnh liên cầu khuẩn trên cá rô phi do vi khuẩn Gram dương Streptococcus spp. gây ra (thường gặp S. agalactiae và S. iniae).
Đặc điểm dịch tễ
Loài cảm nhiễm: Thường gặp trên tất cả các loài cá nhưng phổ biến nhất
là trên cá rô phi.
Vi khuẩn Streptococcus spp. phát triển mạnh trong môi trường nước bẩn,
mật độ nuôi cao, khí độc cao (NH3 và H2S) và nhiệt độ cao (30 – 370C) gây chết
cá hàng loạt, có khi lên tới 60 – 100%.
Giai đoạn xuất hiện: Bệnh xuất hiện ở hầu hết các giai đoạn phát triển của cá. Thường xảy ra khi cá bị sốc hay trong thời tiết bất lợi, chuyển mùa.
Đường lây truyền: Bệnh lây lan theo chiều ngang, từ cá bệnh sang cá khỏe trong cùng ao nuôi, trại nuôi, qua nguồn nước, dụng cụ,…
Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định. Ảnh: VASEP
Dấu hiệu bệnh lý
Cá nhiễm bệnh có biểu hiện lờ đờ, bơi không định hướng (bơi xoắn ốc, vòng tròn), trường hợp nặng sẽ bơi nghiêng mình trên mặt nước và quay tròn sau đó chết, nổi lờ đờ trên tầng mặt hoặc dạt vào bờ. Cá có dấu hiệu hôn mê, mất phương hướng do vi khuẩn tấn công vào hệ thần kinh trung ương.
Mắt lồi, đục một hoặc hai bên. Cơ thể sẫm màu (đen thân). Xuất huyết ở gốc vây, quanh miệng, nắp mang, tuột vảy và có thể có vết lở loét. Xoang bụng chứa dịch vàng/trắng, gan và thận sưng to, lách sưng, gan tái nhợt. Ở giai đoạn nhiễm trùng sẽ xuất hiện các dấu hiệu xuất huyết, viêm gan, thận, lá lách, tim, mắt và ống ruột. Lách thường có dấu hiệu sưng. Khi bệnh nặng, thường bội nhiễm với những vi khuẩn cơ hội khác như Aeromonas spp ở nước ngọt và Vibrio spp ở nước lợ.
Chẩn đoán xét nghiệm
Xét nghiệm bằng phương pháp PCR hoặc phương pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn theo tiêu chuẩn TCVN 8710-21:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TTBNNPTNT.
Trị bệnh
Loại bỏ ngay những con chết và yếu.
Xử lý môi trường nước bằng phương pháp phun hóa chất xuống ao nuôi hoặc treo túi hóa chất đối với khu lồng – bè.
Dừng cho cá ăn 1 ngày.
Gửi mẫu xét nghiệm và làm kháng sinh đồ.
Sử dụng kháng sinh (dựa trên kết quả kháng sinh đồ), bổ dung Vitamin C/chất tăng cường hệ miễn dịch (Beta-glucan) cho ăn liên tục 7 – 10 ngày.
Sau khi kết thúc dung kháng sinh, tiếp tục cho ăn Vitamin C và sử dụng thêm men tiêu hóa và giải độc gan trong vòng 10 ngày.
Phòng bệnh
Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định.
Mật độ thả nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo mật độ thích hợp cho cá phát triển tốt.
Sử dụng lượng thức ăn vừa đủ, tránh dư thừa giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước, hạn chế sự phát triển và truyền lây của tác nhân gây bệnh.
Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày (màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ); kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại để phát hiện sớm, xử lý kịp thời, đặc biệt cá ở giai đoạn dưới 5 tháng tuổi và giai đoạn chuyển mùa; có thể lấy mẫu định kỳ cá ở giai đoạn này để kiểm tra tác nhân gây bệnh trên mang, bóng hơi, gan, thận và cơ.\
Tăng cường chăm sóc, sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng, bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chế phẩm sinh học… giúp nâng cao sức đề kháng cho cá.
Quản lý tốt môi trường nước trong ao/bể nuôi, thực hiện khử trùng định kỳ bằng hóa chất, chế phẩm được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản), đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học khác trong quá trình nuôi như quản lý hoạt động của con người, động vật, phương tiện ra vào khu vực ao nuôi.
Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng ao/bể/lồng, bè nuôi và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao/bể/lồng/bè bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng vôi bột, hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y.
Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, cơ sở nuôi chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y. Ngừng sử dụng trước khi thu hoạch theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Nguyễn Hằng