Giảm thiểu rủi ro bệnh EHP trong nuôi tôm thâm canh

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Bệnh EHP không gây chết hàng loạt nhưng khiến tôm chậm lớn, phân đàn, kéo dài thời gian nuôi và làm giảm hiệu quả sản xuất. Chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp từ kiểm soát con giống, nguồn nước, thức ăn đến quản lý môi trường và an toàn sinh học là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro đối với các mô hình nuôi thâm canh.

Đặc điểm bệnh EHP

Nguyên nhân: Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, bệnh do vi sinh vật nhân thực nội bào Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), một loài vi bào tử trùng nội bào, gây ra. Bào tử EHP có lớp vỏ kitin rất dày và kiên cố, giúp chúng tồn tại lâu trong điều kiện môi trường bất lợi và khó bị bất hoạt bởi các loại hóa chất khử trùng thông thường nếu không sử dụng ở nồng độ và thời gian tiếp xúc phù hợp.

Loài cảm nhiễm: Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và tôm sú (Penaeus monodon) đều mẫn cảm với bệnh. Một số loài giáp xác hoang dã nhỏ, giun nhiều tơ, mực, nghêu, hàu trong môi trường tự nhiên có thể là vật chủ hoặc nguồn mang, phát tán mầm bệnh.

Giai đoạn và mùa vụ xuất hiện bệnh: Giai đoạn 30 – 60 ngày tuổi thường là giai đoạn bệnh được phát hiện nhiều trong thực tế sản xuất. Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường bùng phát vào mùa khô và những đợt nắng nóng kéo dài. Khi nhiệt độ nước trên 30°C và độ mặn trên 25‰, điều kiện môi trường có thể thuận lợi cho EHP phát triển và lây lan.

Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh được ghi nhận tại nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Nam Trung Bộ.

Đường lây truyền: Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa, tôm ăn phải bào tử EHP trong phân, xác tôm chết, thức ăn tươi sống hoặc tiếp xúc với bùn đáy chứa bào tử EHP. Hiện chưa có bằng chứng khoa học khẳng định EHP lây truyền dọc qua buồng trứng; tuy nhiên, tôm giống có thể bị nhiễm gián tiếp từ phân và chất bài tiết của tôm bố mẹ trong môi trường bể ương. Bào tử EHP có thể tồn lưu lâu dài trong bùn đáy, vật liệu hữu cơ và một số sinh vật mang mầm bệnh, làm tăng nguy cơ tái phát bệnh ở các vụ nuôi tiếp theo nếu ao không được cải tạo và xử lý triệt để.

Tôm nhiễm EHP có kích cỡ không đều, vỏ mềm. Ảnh: Cục Chăn nuôi và Thú y

Triệu chứng: Tôm nhiễm EHP thường không gây chết hàng loạt, nhưng làm giảm tốc độ tăng trưởng rõ rệt. Tôm có biểu hiện còi cọc, phân đàn mạnh (cỡ tôm không đồng đều) mặc dù vẫn tiêu thụ thức ăn tương đối nhiều. Ngoài ra, tôm thường có cơ thể gầy, một số trường hợp có thể xuất hiện vỏ mềm hoặc chậm cứng vỏ, phản xạ bơi lội chậm chạp, khả năng bắt mồi kém và hiệu quả chuyển hóa thức ăn thấp.

Bệnh tích đặc trưng: Khi quan sát khối gan tụy thấy màu nhạt hơn bình thường, bị teo nhỏ lại, đôi khi xuất hiện những mảng trắng đục không đều. Đường ruột teo tóp, chứa rất ít thức ăn hoặc trống rỗng; tôm thải ra các đoạn phân đứt khúc màu trắng có thể nổi trên mặt nước.

Bệnh tích vi thể: Tế bào biểu mô hình ống gan tụy bị tổn thương nặng nề, mất tính toàn vẹn và bong tróc; quan sát dưới kính hiển vi thấy các bào tử EHP hình ô-van khu trú bên trong tế bào chất.

Một trong những đặc điểm khiến EHP khó kiểm soát là bệnh không gây chết hàng loạt mà âm thầm làm giảm năng suất. Nhiều ao nuôi vẫn duy trì tỷ lệ sống cao nhưng tốc độ tăng trưởng của tôm giảm rõ rệt, thời gian nuôi kéo dài và hệ số chuyển đổi thức ăn tăng lên. Điều này làm phát sinh thêm chi phí thức ăn, điện năng và nhân công, đồng thời khiến việc thu hoạch đúng cỡ thương phẩm gặp nhiều khó khăn.

Kiểm soát nguồn lây từ đầu vụ

Con giống: Là một trong những nguồn đưa mầm bệnh vào ao nuôi. Nếu giống mang EHP ngay từ đầu, các biện pháp quản lý trong quá trình nuôi chỉ có thể hạn chế phần nào tác động của bệnh chứ khó loại bỏ hoàn toàn.

Do đó, người nuôi cần ưu tiên lựa chọn tôm giống từ các cơ sở sản xuất uy tín, có quy trình kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Trước khi thả, cần kiểm tra hồ sơ, nguồn gốc và tình trạng sức khỏe của lô giống; đối với tôm sú, tôm thẻ chân trắng thuộc phạm vi áp dụng của QCVN 02-34-1:2021/BNNPTNT, tôm bố mẹ và tôm giống phải không bị nhiễm EHP theo quy định và việc kiểm tra tác nhân gây bệnh EHP thực hiện theo TCVN 8710-12:2019. Đối với các mô hình nuôi thâm canh, có thể chủ động lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thử nghiệm đủ năng lực để đánh giá nguy cơ trước khi thả giống.

Bên cạnh đó, cần chọn giống khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ, phản xạ tốt và thích nghi nhanh với điều kiện môi trường sẽ có sức chống chịu cao hơn trước áp lực của các tác nhân gây bệnh trong quá trình nuôi.

Chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng: Sau mỗi vụ nuôi, cần tiến hành thu gom toàn bộ chất thải, nạo vét lớp bùn đáy tích tụ, đặc biệt tại khu vực gần cống thoát và vị trí tập trung chất thải. Ao nên được phơi khô đủ thời gian để làm giảm mật độ mầm bệnh và các sinh vật mang mầm bệnh còn tồn lưu. Đối với những vùng nuôi khó phơi đáy do điều kiện thời tiết hoặc nền đáy, cần kết hợp các biện pháp cải tạo phù hợp theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Đối với ao lót bạt, cần vệ sinh kỹ bạt đáy, thành ao và hệ thống thu gom chất thải trước khi đưa vào vụ nuôi mới.

Quản lý chặt nguồn nước cấp: Nguồn nước tự nhiên luôn tiềm ẩn nguy cơ mang theo mầm bệnh, đặc biệt tại những vùng nuôi tập trung sử dụng chung hệ thống kênh cấp và thoát nước. Không nên lấy nước trực tiếp vào ao nuôi khi chưa qua các biện pháp xử lý phù hợp, nhằm giảm nguy cơ đưa EHP và các tác nhân gây bệnh khác vào hệ thống sản xuất.

Việc cấp và thoát nước giữa các ao cần được tách biệt, tránh sử dụng chung đường nước hoặc xả trực tiếp từ ao nghi nhiễm sang ao khác. Các trang trại nên bố trí ao lắng riêng nhằm giữ nước trước khi cấp vào ao nuôi. Trong giai đoạn này, nước cần được lắng lọc để loại bỏ chất rắn lơ lửng, sinh vật mang mầm bệnh và các vật chủ trung gian. Sau đó, tiến hành xử lý bằng các biện pháp phù hợp, kết hợp kiểm tra các chỉ tiêu môi trường trước khi cấp sang ao nuôi. Nước thải phải được thu gom, xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường theo quy định pháp luật có liên quan.

Loại bỏ các vật chủ trung gian: Nhiều nghiên cứu cho thấy EHP không chỉ tồn tại trên tôm mà còn có thể hiện diện ở một số sinh vật sống trong môi trường ao nuôi. Giun nhiều tơ, giáp xác nhỏ và một số loài nhuyễn thể có thể tham gia vào quá trình lưu giữ hoặc phát tán mầm bệnh.

Do đó, trong quá trình cải tạo và vận hành ao nuôi cần hạn chế sự xâm nhập của các sinh vật này bằng cách gia cố bờ ao, lắp đặt lưới chắn tại các cống cấp thoát nước, thường xuyên vệ sinh khu vực xung quanh và loại bỏ các ổ cư trú của cua, còng trên bờ.

Đối với thức ăn tươi sống hoặc nguyên liệu chưa qua xử lý, người nuôi cần kiểm soát chặt nguồn cung và quy trình bảo quản vì đây có thể là nguồn mang theo nhiều tác nhân gây bệnh, trong đó có EHP. Nên ưu tiên sử dụng thức ăn đã qua xử lý hoặc có nguồn gốc rõ ràng. Nếu sử dụng thức ăn tươi sống, cần kiểm soát nguồn gốc và xử lý phù hợp trước khi cho ăn để giảm nguy cơ mang mầm bệnh.

Vệ sinh, khử trùng: Các phương tiện, dụng cụ vận chuyển tôm, thức ăn và vật tư cần được làm sạch, khử trùng trước và sau khi ra vào khu nuôi. Đồng thời, cần hạn chế người lạ ra vào trại và kiểm soát chặt việc đưa giống, thiết bị hoặc vật tư từ bên ngoài vào khu sản xuất.

Mỗi ao nuôi cần có bộ dụng cụ riêng hoặc được vệ sinh, khử trùng kỹ trước khi sử dụng cho ao khác. Người lao động cần tuân thủ quy trình di chuyển theo hướng từ khu có nguy cơ thấp đến khu có nguy cơ cao nhiễm bệnh, đồng thời vệ sinh tay, ủng và các thiết bị sau mỗi lần làm việc.

Đối với các trang trại quy mô lớn, việc bố trí cổng kiểm soát, hố sát trùng, khu vực thay trang phục, lối đi riêng giữa các khu sản xuất và phân tách khu ương, khu nuôi thương phẩm với khu xử lý nước sẽ góp phần nâng cao hiệu quả an toàn sinh học và giảm nguy cơ phát tán mầm bệnh.

Quản lý và chăm sóc

Duy trì môi trường ổn định: Trong suốt quá trình nuôi, cần duy trì các chỉ tiêu môi trường ở ngưỡng phù hợp, đặc biệt là nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm và hàm lượng ôxy hòa tan. Việc thay đổi đột ngột các yếu tố này không chỉ gây stress cho tôm mà còn làm suy giảm chức năng gan tụy, làm gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh và ảnh hưởng đến sức khỏe đàn tôm.

Song song đó, cần theo dõi thường xuyên hàm lượng amoniac (NH3), nitrit (NO2-) và khí độc H2S. Đây là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng đáy ao và khả năng phân hủy chất hữu cơ.

Có thể sử dụng chế phẩm sinh học phù hợp để hỗ trợ ổn định hệ vi sinh vật ao nuôi; việc sử dụng phải bảo đảm sản phẩm được phép sử dụng và theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.

Ở các mô hình thâm canh và siêu thâm canh, cần định kỳ quan trắc môi trường, kết hợp với các thiết bị giám sát tự động nếu có điều kiện. Phát hiện sớm những biến động nhỏ sẽ giúp người nuôi chủ động điều chỉnh trước khi ảnh hưởng đến sức khỏe đàn tôm.

Kiểm soát chất hữu cơ và đáy ao: Cần quản lý lượng thức ăn phù hợp với sức ăn thực tế của tôm. Người nuôi cần kiểm tra sàng ăn, điều chỉnh khẩu phần theo thời tiết, sức khỏe đàn tôm và tốc độ tăng trưởng sẽ giúp giảm lượng chất hữu cơ lắng xuống đáy ao.

Định kỳ xi phông chất thải tại khu vực tập trung cặn bã, nhất là ở các ao lót bạt hoặc ao có hệ thống thu gom chất thải. Bên cạnh đó, vận hành quạt nước hợp lý nhằm tạo dòng chảy, gom chất thải về khu vực xử lý sẽ giúp đáy ao thông thoáng, hạn chế hình thành vùng yếm khí.
Trong những giai đoạn thời tiết bất lợi như mưa kéo dài, nắng nóng gay gắt hoặc giao mùa, cần tăng cường theo dõi chất lượng đáy ao vì đây là thời điểm các chỉ tiêu môi trường dễ biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe gan tụy.

Đảm bảo dinh dưỡng: Thực hiện chế độ dinh dưỡng cân đối sẽ góp phần duy trì sức khỏe đường ruột và gan tụy, từ đó nâng cao khả năng chống chịu của tôm trước áp lực mầm bệnh.

Vì vậy, người nuôi nên lựa chọn thức ăn có chất lượng ổn định, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm và tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất. Thức ăn cần được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ẩm mốc và sử dụng trong thời gian khuyến cáo.

Trong điều kiện thời tiết thay đổi hoặc khi tôm có dấu hiệu giảm bắt mồi, cần điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp thay vì duy trì khẩu phần như bình thường.

Có thể bổ sung vitamin, khoáng chất và các sản phẩm hỗ trợ phù hợp nhằm hỗ trợ sức khỏe đàn tôm; việc sử dụng phải tuân thủ quy định về sản phẩm dùng trong nuôi trồng thủy sản và hướng dẫn của nhà sản xuất. Tuy nhiên, cần lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, ưu tiên các sản phẩm đã được kiểm chứng về hiệu quả. Việc sử dụng cần tuân thủ đúng liều lượng, thời điểm và cách dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc cán bộ kỹ thuật.

Theo dõi sức khỏe tôm: Định kỳ kiểm tra trọng lượng, chiều dài và mức độ đồng đều của đàn tôm. Nếu sau nhiều lần kiểm tra liên tiếp, tốc độ tăng trưởng thấp hơn dự kiến hoặc tỷ lệ phân đàn tăng nhanh, cần xem xét khả năng tôm bị nhiễm EHP hoặc gặp các vấn đề về gan tụy.
Thường xuyên kiểm tra sàng ăn không chỉ nhằm đánh giá lượng thức ăn tiêu thụ để điều chỉnh khẩu phần mà còn là biện pháp theo dõi sức khỏe đàn tôm. Thông qua việc quan sát màu sắc gan tụy, tình trạng đường ruột, độ cứng vỏ, phản xạ bắt mồi và hoạt động của tôm, người nuôi có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, từ đó kịp thời điều chỉnh chế độ cho ăn, quản lý môi trường và áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp.

Đối với các trang trại quy mô lớn, nên xây dựng kế hoạch lấy mẫu định kỳ để xét nghiệm khi có nghi ngờ. Phát hiện sớm sẽ giúp người nuôi điều chỉnh chế độ chăm sóc, giảm thiểu thiệt hại và chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch thu hoạch.

Xử lý khi tôm nhiễm bệnh

Khi nghi ngờ tôm nhiễm EHP, cần kết hợp theo dõi các dấu hiệu lâm sàng với xét nghiệm để khẳng định sự hiện diện của tác nhân gây bệnh. Khi có kết quả xét nghiệm dương tính, cơ sở nuôi cần thông báo cho cơ quan chuyên môn địa phương theo quy định; đồng thời chủ động trao đổi thông tin với các cơ sở nuôi lân cận để phối hợp áp dụng biện pháp phòng ngừa phù hợp. Ngừng cho ăn và không thay nước hoặc xả nước chưa qua xử lý ra môi trường chung; thực hiện cô lập ao bị bệnh và các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành.

Trong suốt quá trình nuôi, cần duy trì các chỉ tiêu môi trường ở ngưỡng phù hợp. Ảnh: ST

Trường hợp tôm đạt kích cỡ thương phẩm, có thể xem xét thu hoạch sớm trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế và nguy cơ lây lan dịch bệnh; việc vận chuyển tôm ra ngoài khu vực có dịch phải thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành và quy định hiện hành.

Nếu tôm dương tính nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng, có thể tăng cường chăm sóc, bổ sung vitamin, khoáng chất và sản phẩm hỗ trợ phù hợp theo hướng dẫn kỹ thuật; không coi đây là biện pháp điều trị đặc hiệu EHP.

Đối với trang trại có nhiều khu nuôi, nên bố trí dụng cụ riêng cho ao bệnh, hạn chế người và dụng cụ di chuyển giữa các ao để tránh lây nhiễm chéo. Các dụng cụ sau khi sử dụng cần được vệ sinh và khử trùng.

Không xả nước ao bệnh ra môi trường khi chưa được xử lý theo quy định; đối với trường hợp áp dụng hướng dẫn tại Quyết định số 123/QĐ-TSKN, thực hiện xử lý nước và bùn đáy bằng Chlorine nồng độ ≥ 30 ppm theo thời gian xử lý được hướng dẫn, bảo đảm an toàn trước khi xả thải.

Toàn bộ bùn đáy, chất thải, xác tôm và các vật liệu có nguy cơ mang mầm bệnh cần được thu gom, xử lý đúng quy định. Ao nuôi phải được vệ sinh, cải tạo và khử trùng phù hợp trước khi bước vào vụ mới theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.

Sau khi kết thúc vụ nuôi, cần đánh giá nguyên nhân phát sinh bệnh, rà soát toàn bộ quy trình quản lý và cập nhật các biện pháp an toàn sinh học nhằm giảm nguy cơ tái phát trong vụ nuôi tiếp theo.

Diệu Châu

Tài liệu tham khảo:
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên tôm nước lợ, ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TSKN ngày 20/3/2026.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016). Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT).
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 09/3/2026 quy định về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/01/2026 quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). QCVN 02-34-1:2021/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giống tôm nước lợ, tôm biển – Phần 1: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2019). TCVN 8710-12:2019. Bệnh thủy sản – Phần 12: Bệnh vi bào tử do Enterocytozoon hepatopenaei ở tôm.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài