(TSVN) – Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so cùng kỳ năm trước. Nếu giữ đà tăng trưởng, tôm hùm có cơ hội cán mốc 1 tỷ USD trong năm nay.
Theo số liệu từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu tôm 7 tháng đầu năm 2026 đạt gần 2,8 tỷ USD, tăng 13,5% so cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 7/2026, xuất khẩu tôm đạt 452 triệu USD, tăng 10% so cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu mặt hàng tôm xuất khẩu, tôm hùm đang ghi nhận đà phục hồi ấn tượng sau giai đoạn chịu nhiều sức ép. Kim ngạch xuất khẩu tôm hùm năm 2025 đạt 858 triệu USD, mức cao kỷ lục. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu mặt hàng này đạt 11.790 tấn, mang về 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so cùng kỳ.
Trên thực tế, tôm hùm là đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển quốc gia, hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng giá trị sản xuất 8%/năm, đóng góp khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào năm 2030.
Tuy nhiên, theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nhu cầu con giống tôm hùm trên cả nước vào khoảng 100 – 120 triệu con/năm, trong khi nguồn khai thác tự nhiên mới đáp ứng khoảng 10%. Phần còn lại vẫn đang phụ thuộc chủ yếu vào con giống nhập khẩu.
Mặc dù công nghệ sản xuất giống nhân tạo đối với tôm hùm bông, dù đã có bước tiến ở quy mô nghiên cứu nhưng chưa thể nhân rộng thương mại.
Khánh Hòa là địa phương thể hiện rõ nhất sức ép này, nguồn giống tôm hùm tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu, tương đương nhu cầu 60 – 70 triệu con/năm. Trong nửa đầu năm 2026, địa phương không nhập khẩu được con giống tôm hùm, khiến giá giống tăng lên 45.000 – 50.000 đồng/con đối với tôm hùm xanh và 60.000 – 65.000 đồng/con đối với tôm hùm bông.
Không chỉ nguồn giống, ngành hàng còn đối mặt với tình trạng liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ. Người nuôi, doanh nghiệp cung ứng, cơ sở thu mua, chế biến và xuất khẩu chưa hình thành được một chuỗi đủ mạnh để cùng chia sẻ thông tin, rủi ro và lợi ích.
Từ thực tế trên, ngành hàng tôm hùm cần chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý vùng nuôi, con giống và truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh đó, để nâng sức cạnh tranh, ngành tôm hùm cần chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi, nuôi biển công nghệ cao. Việc khai thác giống cần gắn liền với bảo tồn. Các vùng nuôi cần được quy hoạch, cấp mã số để quản lý sản lượng, điều kiện nuôi và truy xuất nguồn gốc; dữ liệu từ cơ sở nuôi, đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu cần được kết nối, phục vụ xuất khẩu chính ngạch.
Mở rộng thị trường, nâng giá trị cho sản phẩm tôm hùm Ảnh: Chí Nhân
Các thị trường như Trung Quốc, CPTPP, Australia, Nhật Bản... vẫn còn dư địa tăng trưởng xuất khẩu. Trong khi đó, sức mua tại thị trường Mỹ chưa thật sự phục hồi, rủi ro từ phòng vệ thương mại, các yêu cầu kiểm soát nhập khẩu ngày càng chặt chẽ, cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu khác như Ecuador và Ấn Độ đang là rào cản lớn cho ngành tôm Việt Nam.
Ngoài ra, từ ngày 24/7/2026, hàng hóa Việt Nam thuộc diện áp dụng chính sách thuế bổ sung của Mỹ ở mức 12,5%. Tôm là mặt hàng chịu tác động lớn nhất từ thuế quan Mỹ. Bởi lẽ, không chỉ chịu thêm 12,5% thuế Section 301, một số doanh nghiệp tôm Việt Nam còn đang chịu đồng thời thuế chống bán phá giá (AD) và thuế chống trợ cấp (CVD).
Theo PGS.TS. Võ Sĩ Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, thực tế cho thấy rất khó trông chờ hoàn toàn vào sản xuất giống nhân tạo để cung cấp đủ nguồn giống cho nuôi tôm hùm thương phẩm trong nước. Ngay cả khi nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo thành công, giá thành cũng có thể rất cao, gây khó khăn cho khả năng thương mại hóa. Vì vậy, trước mắt, cần tháo gỡ các khó khăn trong nhập khẩu giống từ nước ngoài, đồng thời có giải pháp căn cơ để khai thác nguồn tôm hùm giống trong nước.
Hiện, Indonesia – nguồn cung tôm hùm giống chính cho Việt Nam đang thay đổi chính sách quản lý. Theo Quy định KP 7/2024 của Indonesia, nước này chỉ cho phép xuất khẩu tôm hùm sống trên 50 g và yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cơ sở ươm giống tại địa phương.
Từ thực tế này, ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng Thư ký Hội Thủy sản Việt Nam đề xuất mô hình liên doanh hai giai đoạn. Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể xây dựng cơ sở tại Indonesia để ương tôm từ 0,2 g lên 5 g, sau đó chuyển về Việt Nam để dưỡng lên trên 20 g trước khi cung ứng cho người nuôi. Cách tiếp cận này có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn giống, đồng thời tạo ra chuỗi liên kết xuyên biên giới thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động nhập khẩu giống như hiện nay.
Về phần mình, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho rằng, phải tập huấn, hướng dẫn lại cho bà con về kỹ thuật khai thác tôm hùm giống để nâng cao tỷ lệ sống, giảm áp lực đối với nguồn tôm giống nhập khẩu. Đồng thời, cần tổ chức liên kết vùng nuôi để đăng ký truy xuất nguồn gốc, từ cơ sở nuôi, cơ sở đóng gói đến cơ sở xuất khẩu, bảo đảm minh bạch.
Về dài hạn, việc phát triển ngành tôm hùm không thể chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên hay giá bán cao. Nguồn giống phải được kiểm soát, vùng nuôi được quy hoạch, người nuôi phải được tổ chức lại và doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; công nghệ nuôi, quản lý môi trường và truy xuất nguồn gốc cần được xem là những mắt xích quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Với kết quả tích cực 6 tháng đầu năm, kim ngạch đạt gần 600 triệu USD. Cơ hội xuất khẩu 1 tỷ USD đang mở ra, nhưng để giữ đà tăng trưởng, ngành tôm hùm phải chuyển sang nuôi có quy hoạch, ứng dụng công nghệ, chủ động nguồn giống và minh bạch truy xuất nguồn gốc, qua đó nâng giá trị và phát triển bền vững nghề nuôi biển.
Đông Phong