CN, 12/07/2026 08:21

Gỡ khó cho xuất khẩu tôm hùm bông và câu chuyện đa dạng thị trường

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt hơn 5,7 tỷ USD, tăng gần 13%. Đóng góp vào đà tăng trưởng ấn tượng này là mặt hàng tôm với kim ngạch hơn 2 tỷ USD.

Thị trường xuất khẩu cho thấy sự phân hóa rất rõ rệt. Trung Quốc đã vươn lên trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản số 1 khi khi lượng nhập khẩu tăng vọt tới gần 42%.

Theo Shrimp Insights, riêng tháng 4/2026, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 93.000 tấn tôm, tăng hơn 30% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm, lượng nhập khẩu đạt hơn 343.000 tấn, với giá trị gần 1,8 tỷ USD.

Đáng chú ý, nhu cầu tiêu dùng tại thị trường Trung Quốc đang mở rộng không chỉ ở phân khúc tôm phổ thông mà còn ở các sản phẩm thủy sản cao cấp. Đây là cơ hội lớn đối với ngành tôm hùm Việt Nam, đặc biệt là tôm hùm bông – sản phẩm có giá trị kinh tế cao nhất trong nhóm tôm hùm nuôi.

Ngành tôm hùm cần mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường có giá trị cao. Ảnh: Vietnamnet

“Nút thắt” xuất khẩu tôm hùm bông

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt khoảng 858 triệu USD, tăng hơn 200% so năm trước. Trong đó, thị trường Trung Quốc chiếm tới 845 triệu USD, tương đương gần như toàn bộ giá trị xuất khẩu của ngành hàng.

Nhu cầu tiêu thụ mạnh đã giúp Việt Nam trở thành nhà cung cấp tôm hùm lớn nhất cho Trung Quốc, với sản lượng hơn 24.000 tấn, chiếm khoảng 1/3 thị phần. Riêng tôm hùm bông, dù sản lượng khiêm tốn hơn tôm hùm xanh nhưng vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ kích cỡ lớn, chất lượng thịt tốt và giá bán vượt trội.

Tuy nhiên, theo quy định mới, tôm hùm bông nhập khẩu vào Trung Quốc phải chứng minh được nguồn gốc từ giống nhân tạo thế hệ F2 và không sử dụng con giống khai thác từ tự nhiên. Yêu cầu này đang tạo ra thách thức lớn cho ngành tôm hùm Việt Nam. Bởi hiện nay, việc sản xuất giống tôm hùm bông nhân tạo đến thế hệ F2 vẫn chưa được thương mại hóa trên phạm vi toàn cầu.
Tại cuộc họp bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu tôm hùm bông diễn ra mới đây, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, cần tiếp tục trao đổi với phía Trung Quốc để làm rõ cơ sở khoa học cũng như tính phù hợp của yêu cầu này với thông lệ thương mại quốc tế.

Theo ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hiện mới chỉ có Australia công bố một số kết quả nghiên cứu về sinh sản nhân tạo tôm hùm bông nhưng vẫn chủ yếu ở quy mô nghiên cứu. Vì vậy, việc áp dụng yêu cầu về nguồn giống F2 trong thương mại quốc tế cần được trao đổi kỹ hơn giữa các cơ quan chuyên môn hai nước.

Cơ quan đầu mối thực hiện Công ước CITES tại Việt Nam cho biết, tôm hùm bông hiện không nằm trong các phụ lục của Công ước CITES. Việc chứng nhận nguồn gốc thương phẩm từ giống F2 nhân tạo hiện chưa phải là thông lệ phổ biến trong thương mại quốc tế.

Nhu cầu tiêu thụ tôm hùm tại Trung Quốc vẫn rất lớn và nguồn cung nội địa của nước này chưa đáp ứng đủ. Vì vậy, trọng tâm hiện nay là làm rõ cơ chế xác nhận nguồn gốc và các yêu cầu kỹ thuật liên quan để bảo đảm hoạt động thương mại được duy trì ổn định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, đây cũng là thời điểm để ngành tôm hùm nhìn lại những hạn chế tồn tại nhiều năm qua, đặc biệt là sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường xuất khẩu. Thực tế cho thấy, khi gần như toàn bộ kim ngạch xuất khẩu tôm hùm phụ thuộc vào Trung Quốc, bất kỳ thay đổi nào về chính sách nhập khẩu cũng có thể tác động mạnh đến người nuôi, doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi giá trị ngành hàng.

Đầu tư vào phân khúc chế biến sâu và áp dụng công nghệ để đáp ứng các tiêu chuẩn. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Do đó, yêu cầu đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh Trung Quốc, ngành tôm hùm cần mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường có giá trị cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Liên minh châu Âu thông qua nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, đầu tư công nghệ bảo quản và phát triển các sản phẩm chế biến sâu.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là hoàn thiện hệ thống quản lý vùng nuôi, cấp mã số cơ sở nuôi, tăng cường truy xuất nguồn gốc và kiểm soát khai thác theo hướng bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu từ các thị trường nhập khẩu mà còn là điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh và tính minh bạch của ngành tôm hùm Việt Nam.

Về dài hạn, chỉ khi làm chủ công nghệ giống, xây dựng chuỗi sản xuất minh bạch, bền vững và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, ngành tôm hùm Việt Nam mới có thể phát triển ổn định và chủ động trước những biến động của thương mại toàn cầu.

Ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, cần xem thách thức hiện nay là cơ hội để đánh giá toàn diện tiềm năng phát triển của ngành tôm hùm Việt Nam, từ năng lực nuôi, khả năng nghiên cứu đến định hướng phát triển dài hạn.

Theo Thứ trưởng, nghiên cứu và sản xuất giống vẫn là mắt xích yếu của ngành thủy sản Việt Nam. Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục thúc đẩy các chương trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công nghệ sản xuất giống tôm hùm, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư nghiên cứu theo hướng xã hội hóa nhằm tạo nền tảng phát triển bền vững cho ngành hàng.

Thị trường Mỹ tiếp tục gặp khó

Tôm tiếp tục là mặt hàng gặp nhiều khó khăn nhất tại thị trường Mỹ. Kết quả sơ bộ kỳ rà soát hành chính lần thứ 20 do Bộ Thương mại Mỹ công bố ngày 13/5/2026 cho thấy mức thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với hai doanh nghiệp bị đơn lần lượt là 10,76% và 6,3%, trong khi các doanh nghiệp được hưởng mức thuế riêng phải chịu mức thuế 7,56%.

Dù chưa phải kết quả cuối cùng, mức thuế này đã tạo thêm áp lực lên quá trình đàm phán giá và tâm lý mua hàng của các nhà nhập khẩu Mỹ. Diễn biến này cho thấy nhu cầu thị trường chưa phục hồi đủ mạnh để hấp thụ áp lực chi phí và giá cả, khiến các nhà nhập khẩu tiếp tục thận trọng với các đơn hàng mới. Nguy cơ áp thuế chống trợ cấp và chống bán phá giá có thể đẩy mức thuế tổng hợp lên tới gần 60%.

Có thể thấy ngành hàng tôm có sự tăng trưởng tốt nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại, buộc các doanh nghiệp phải chủ động thích ứng, để giữ vững thị phần tại các thị trường xuất khẩu chính.

Để duy trì năng lực cạnh tranh đòi hỏi ngành tôm Việt Nam phải chuyển đổi phương thức sản xuất một cách thực chất. Tập trung vào phân khúc chế biến sâu và áp dụng công nghệ để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nhập khẩu là giải pháp cốt lõi hiện nay. Đây là cơ sở để các doanh nghiệp giữ vững thị phần xuất khẩu và hoàn thành các mục tiêu kinh tế đã đề ra.

6 tháng cuối năm, ngành tôm Việt Nam còn đối mặt với xu hướng thay đổi nhu cầu tiêu dùng. Thị trường thế giới thắt chặt chi tiêu, tập trung nhiều hơn phân khúc tôm nhỏ, trong khi nông dân vẫn giữ thói quen nuôi tôm cỡ lớn để bán giá cao. Nghịch lý cung cầu này đang buộc người nuôi tôm phải thay đổi tư duy sản xuất.

Đông Phong

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!