(TSVN) – Ngành thủy sản đang phải đối diện với nhiều thách thức, từ căng thẳng địa chính trị, biến đổi khí hậu, khan hiếm tài nguyên tới các hàng rào thương mại và biến động thị trường. Dù vậy, trước tiên và quan trọng nhất là phải đảm bảo an ninh thức ăn, bằng không, cả ngành công nghiệp sẽ rơi vào hiểm cảnh.
Từ cuối tháng 6 năm 2026, thị trường bột cá và dầu cá bước vào giai đoạn căng thẳng về nguồn cung. Nhiều biến số cùng xuất hiện tác động trực tiếp tới thị trường các nguyên liệu quan trọng cho thức ăn thủy sản.
Đối với bột cá, tại quốc gia sản xuất bột cá lớn nhất trên thế giới là Peru, dù hạn ngạch khai thác cá cơm (Engraulis ringens) được nâng lên 1,914 triệu tấn nhờ trữ lượng sinh khối tăng 31% so với tháng 9/2025, cá non hiện diện ở mức độ cao trong vùng khai thác. Các cơ quan quản lý phải áp dụng các lệnh cấm khai thác cục bộ, khiến nguồn nguyên liệu giảm, gây khó khăn cho các nhà máy chế biến.
Đối với dầu cá, sản lượng dầu cá năm 2026 được dự báo sẽ giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ. Thế nhưng, khoảng 39,6% nguồn cung dầu cá toàn cầu được ngành dược phẩm và thực phẩm chức năng thu mua. Nhu cầu lớn từ các ngành nghề có biên lợi nhuận cao gây sức ép lớn lên nguồn cung cho ngành thức ăn thủy sản, vốn có biên lợi nhuận thấp hơn.
Thêm vào đó, các vùng đệm dự phòng cho thị trường như tồn kho bột cá và dầu cá tại các cảng Trung Quốc đều suy giảm. Chẳng hạn, tồn kho bột cá tại các cảng Trung Quốc chỉ còn 153.800 tấn, thúc đẩy động cơ găm giữ của các đầu mối và doanh nghiệp lớn.
Bước vào tháng 7/2026, giá tham chiếu CNF của bột cá Super Prime Peru trong các hợp đồng bán trước đã tăng lên 3.100 USD/tấn, cao hơn 100 USD/tấn so với các mức chào trước đó và lập kỷ lục mới. Thị trường đang theo dõi sát tình hình khai thác tại Peru, yếu tố quyết định tới nguồn cung bột cá toàn cầu.
TS May Helen Holme, Giám đốc Đổi mới Sáng tạo mảng Cá hồi của Tập đoàn thức ăn thủy sản Skretting nhận định, thức ăn thủy sản đóng vai trò trung tâm trong hiệu suất nuôi trồng, lợi nhuận và tính bền vững của ngành thủy sản. Ngành công nghiệp này đang bước vào giai đoạn mà việc đảm bảo nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn trở nên quan trọng như việc xây dựng chế độ dinh dưỡng cân bằng.
Các nghiên cứu trong nhiều năm qua đã chứng minh dầu vi tảo, dầu thực vật biến đổi gen, côn trùng, đạm đơn bào… có thể thay thế nguyên liệu từ biển trong thức ăn cho thủy sản.
Từ góc độ cân bằng dinh dưỡng, ông Zhiquiang Gao, Giám đốc Kinh doanh Tôm Toàn cầu của Tập đoàn Lachance, dù việc thay thế bột cá bằng các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật trong thức ăn thủy sản đang là xu hướng khó đảo ngược, chế độ dinh dưỡng này có thể ảnh hưởng tới tiêu hoá, hấp thụ dinh dưỡng và trao đổi chất của các loài thủy sản nuôi. Nếu không tìm ra giải pháp bảo vệ sức khoẻ của cá khi nguyên liệu thay thế các thành phần biển được sử dụng ở mức cao hơn, hiệu suất nuôi trồng thủy sản chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
Theo ông Zhiquiang Gao, các nghiên cứu đã chỉ rõ, axit mật (Bile Acids, BA) là phụ gia dinh dưỡng quan trọng và an toàn, vừa thúc đẩy tiêu hóa – hấp thu chất béo, vừa bảo vệ gan và đường ruột cho cá, tôm.
Việc bổ sung axit mật có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng và hiệu quả chuyển hoá chất béo trong chế độ ăn của cá. Với tôm, bổ sung axit mật tuỳ theo từng giai đoạn nuôi không chỉ nâng cao sức đề kháng, cải thiện chuyển hóa dinh dưỡng, tăng tỷ lệ sống mà còn hướng đến mô hình nuôi tôm bền vững, tối ưu chi phí.
“Tại châu Á, ngành thủy sản vẫn đang tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Các nhà sản xuất đang tìm kiếm các giải pháp nuôi trồng bền vững và hiệu quả. Ứng dụng axit mật phù hợp với mục tiêu này”, ông Zhiquiang Gao nhận định.
Thừa nhận ưu điểm của các giải pháp thay thế thành phần biển trong thức ăn thủy sản, theo TS May Helen Holme, ngành công nghiệp này vẫn phải đối diện hai thách thức.
Thứ nhất, các nguyên liệu thay thế phải đạt được quy mô thương mại hoá mới đạt được mức giá cả hợp lý. Tuy nhiên, đầu tư cho sản xuất các nguyên liệu thay thế chậm lại khi giá nguyên liệu từ biển giảm.
Thứ hai, nguồn cung nguyên liệu thay thế vẫn chịu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, căng thẳng chính trị, các biện pháp phòng vệ thương mại…
Bà Holme cho rằng, bên cạnh việc tối ưu hoá hiệu quả và giảm chi phí, nâng cao năng lực thích ứng cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Điều này đòi hỏi phải đa dạng nguồn nguyên liệu thô, thiết lập các chuỗi cung ứng khu vực, giảm thiểu sự phụ thuộc vào một thành phần riêng lẻ và xây dựng các công thức dinh dưỡng có thể phản ứng linh hoạt với biến động thị trường.
“Một bộ công cụ bao trùm, từ những tiến bộ trong nghiên cứu dinh dưỡng cho thủy sản, di truyền học, công nghệ sinh học đến ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu, cảm biến, cho ăn chính xác… sẽ tăng cường tính bền vững và khả năng phục hồi của ngành thủy sản. Đó là con đường tốt nhất dẫn tới thành công trong một thế giới đầy biến động như hiện nay”, TS May Helen Holme khuyến nghị.
Linh Sam