(TSVN) – Từ những con lươn thương phẩm, anh Nguyễn Hồng Phong, xã Phong Nẫm, TP Cần Thơ phát triển thêm khô lươn và chà bông. Khâu chế biến giúp nguyên liệu có thêm giá trị, đồng thời mở rộng cách tiêu thụ khi thị trường lươn tươi biến động.
Gia đình anh Nguyễn Hồng Phong duy trì 15 bể lươn không bùn, mỗi bể cho sản lượng khoảng 600 – 1.000 kg tùy thời điểm và kích cỡ. Với quy mô này, sản lượng lươn thương phẩm hằng năm đạt hơn 10 tấn. Tuy nhiên, đầu ra không phải lúc nào cũng thuận lợi khi giá lươn biến động, trong khi chi phí thức ăn tiếp tục phát sinh nếu kéo dài thời gian giữ lươn.
Thực tế đó khiến anh Phong tìm cách giảm sự phụ thuộc vào việc bán lươn tươi. Thay vì xuất bán toàn bộ khi đến kỳ thu hoạch, gia đình phân bổ một phần sản lượng cho chế biến. Đây cũng là cách để nguyên liệu có thể được sử dụng linh hoạt hơn theo tình hình thị trường.
Sau nhiều lần điều chỉnh, anh lựa chọn phương pháp sấy làm hướng sản xuất chính. So với phơi nắng, sấy giúp chủ động hơn về thời gian và hạn chế sự phụ thuộc vào thời tiết. Anh cũng sử dụng thiết bị đo độ ẩm để theo dõi thành phẩm, đồng thời điều chỉnh nhiệt độ và thời gian sấy nhằm giữ được độ dai, màu sắc và hương vị phù hợp.
Anh Phong duy trì 15 bể lươn không bùn, mỗi bể cho sản lượng khoảng 600 – 1.000 kg. Ảnh: VietNamNet
Chia sẻ với báo chí, anh Phong cho rằng, khâu khó không chỉ nằm ở thiết bị mà còn ở việc hoàn thiện công thức. Lươn có đặc điểm nhiều mỡ nên nếu xử lý và sấy chưa phù hợp, sản phẩm dễ phát sinh mùi hoặc thay đổi kết cấu.
Anh thử nghiệm nhiều cách sơ chế, cắt và tẩm ướp. Sả, ớt cùng một số gia vị được sử dụng để tạo hương vị riêng. Trước khi bán rộng rãi, sản phẩm được đưa cho người thân, bạn bè và khách dùng thử để lấy phản hồi. Những góp ý về độ mềm, độ dai, vị mặn hay mùi thơm được sử dụng để tiếp tục điều chỉnh.
Cùng với khô lươn, anh phát triển thêm chà bông lươn nhằm đa dạng hóa sản phẩm. Hiện khô lươn được bán khoảng 500.000 đồng/kg, trong khi chà bông có giá khoảng 90.000 – 95.000 đồng/hũ 100 g. Một phần sản phẩm được giới thiệu qua mạng xã hội và các kênh bán hàng trực tuyến.
Tháng 8 vừa qua, khi giá lươn thương phẩm ở mức thấp, gia đình anh sử dụng khoảng 200 kg lươn tươi để chế biến. Lượng nguyên liệu này cho ra khoảng 25 – 30 kg sản phẩm khô và chà bông. Sức mua khá tốt khiến có thời điểm lượng hàng làm ra chưa đáp ứng hết đơn đặt trước.
Khi sản phẩm dần ổn định, anh Phong tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất thay vì duy trì cách làm thủ công. Khu chế biến được bố trí theo hướng một chiều, từ sơ chế, chế biến, sấy đến đóng gói.
Nguồn nguyên liệu cũng là một lợi thế khi gia đình vừa có hệ thống hồ lươn vừa chủ động được một phần đầu vào cho cơ sở chế biến. Nhờ vậy, khi thị trường lươn tươi biến động, sản lượng không nhất thiết phải bán hết cùng một thời điểm.
Với hộ sản xuất quy mô vừa phải, chế biến sâu không chỉ là câu chuyện tăng giá bán mà còn giúp chủ động hơn về thời điểm tiêu thụ. Khi sản phẩm tươi có thể chuyển thành hàng chế biến có thời gian bảo quản dài hơn, người nuôi có thêm lựa chọn thay vì phải đưa toàn bộ sản lượng ra thị trường cùng lúc.
Đây cũng là hướng mà anh Phong kỳ vọng có thể mở rộng từ phạm vi gia đình sang liên kết với các hộ nuôi lươn khác, tạo thêm đầu ra và nâng giá trị cho nguyên liệu tại địa phương.
Nguyễn Hằng