Đổi tôm thẻ sang tôm sú, mở hướng mới cho vùng nuôi Cà Mau

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Từ hệ thống ao nuôi tôm thẻ kém hiệu quả do dịch bệnh, một hộ dân ở Cà Mau chuyển sang nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt. Kết quả bước đầu cho thấy, tôm sinh trưởng tốt, đạt kích cỡ lớn, giá bán cao, mở thêm hướng chuyển đổi cho vùng nuôi.

Mới đây, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau tổ chức đoàn khảo sát, đánh giá thực tế mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt tại hộ ông Phạm Văn Quyền, ấp 4, xã Tam Giang, tỉnh Cà Mau. Kết quả bước đầu, tôm sinh trưởng tốt, đạt kích cỡ lớn, giá bán cao và có khả năng thích ứng với điều kiện độ mặn thấp, mở thêm hướng chuyển đổi cho người nuôi tôm tại địa phương.

Điểm đáng chú ý của mô hình là hộ nuôi không xây dựng mới hoàn toàn mà tận dụng hệ thống ao nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh trước đây để chuyển sang nuôi tôm sú. Khu nuôi có tổng diện tích 7 ha, gồm 17 ao, trong đó có 15 ao nuôi và 2 ao ương. Diện tích trung bình khoảng 1.500 m²/ao nuôi và 400 m²/ao ương. Hệ thống được xây dựng từ năm 2017 và nâng cấp, thay bạt vào năm 2022.

Theo ông Quyền, từ đầu năm 2025, hoạt động nuôi tôm thẻ của gia đình gặp nhiều khó khăn khi trong hệ thống ao xuất hiện các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, nấm và đặc biệt là EHP. Tôm chậm phát triển, thời gian nuôi kéo dài, hiệu quả sản xuất giảm. Trong bối cảnh đó, đầu năm 2026, sau khi tiếp cận quy trình từ Công ty Cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam, Trung tâm Khuyến nông và các doanh nghiệp nuôi tôm, gia đình quyết định chuyển hướng sang nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt.

Hệ thống ao lót bạt và công trình phục vụ nuôi tôm sú thâm canh. Ảnh: KN Cà Mau

Mô hình được tổ chức theo 3 giai đoạn, trong đó mật độ nuôi giảm dần theo kích cỡ và giai đoạn phát triển của tôm. Giai đoạn đầu, tôm được ương với mật độ khoảng 300 con/m² trong 20–25 ngày. Khi đạt kích cỡ phù hợp, tôm được chuyển sang giai đoạn 2 với mật độ khoảng 150 con/m²; đến giai đoạn 3, mật độ tiếp tục giảm xuống khoảng 60–70 con/m² để nuôi đến kích cỡ thương phẩm.

Cùng với điều chỉnh mật độ, hộ nuôi chú trọng kiểm soát môi trường và quản lý thức ăn. Từ giai đoạn 2, máy cho ăn được đưa vào sử dụng, giúp chủ động hơn trong kiểm soát lượng thức ăn. Qua khảo sát, tôm bắt mồi tốt và phát triển khá ổn định.

Nguồn nước trước khi đưa vào ao được xử lý qua các công đoạn lắng lọc, khử trùng; nước thay được xử lý bằng chlorine khí. Ở giai đoạn đầu, hộ nuôi chủ yếu quản lý chất thải bằng chế phẩm sinh học và hạn chế thay nước. Sang giai đoạn 2 và 3, nước được thay định kỳ khoảng 2–3 ngày/lần, tùy theo các chỉ tiêu môi trường như NH3, pH và tình trạng tảo trong ao.

Đặc biệt, trong quá trình nuôi, hộ thực hiện xét nghiệm tổng vi khuẩn và EHP trên mẫu tôm, mẫu nước ao định kỳ 5–7 ngày/lần. Mô hình cũng không sử dụng kháng sinh trong suốt quá trình nuôi.

Hai đợt thả giống được thực hiện ngày 14/1 và 5/2/2026, tổng cộng 1 triệu con tôm sú gia hóa của Công ty Cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam, mỗi đợt 500.000 con. Sau hơn 4 tháng nuôi, những kết quả đầu tiên đã cho thấy hiệu quả đáng chú ý.

Từ ngày 14–20/5/2026, sau khoảng 125 ngày nuôi, tôm đạt kích cỡ khoảng 30 con/kg. Hộ đã thu hoạch 3 ao, sản lượng khoảng 10 tấn, giá bán trung bình 170.000 đồng/kg, trong khi giá thành được báo cáo khoảng 120.000 đồng/kg.

Đến ngày 5–12/8/2026, sau khoảng 200 ngày nuôi, tôm đạt kích cỡ khoảng 18 con/kg. Hộ tiếp tục thu hoạch 3 ao, sản lượng khoảng 12 tấn, giá bán trung bình 250.000 đồng/kg và giá thành khoảng 160.000 đồng/kg. Theo báo cáo của mô hình, lợi nhuận đạt khoảng 80.000–90.000 đồng/kg, tùy thời điểm và giá bán.

Không chỉ ghi nhận ở năng suất và giá bán, qua khảo sát thực tế, tôm có màu sắc tươi sáng, không bị mòn đuôi, cụt râu; khi chế biến có màu đỏ đẹp. Đây là những đặc điểm được đánh giá có thể góp phần nâng cao giá trị thương phẩm của sản phẩm.

Kiểm tra tôm sú được nuôi tại mô hình. Ảnh: KN Cà Mau

Ngoài ra, tôm vẫn sinh trưởng tốt trong điều kiện độ mặn khoảng 5–10‰ vào thời điểm từ tháng 6 đến tháng 11 hằng năm. Trong điều kiện sản xuất tại Cà Mau, đây là lợi thế đáng chú ý khi người nuôi phải đối mặt với biến động môi trường và hiệu quả giữa các đối tượng nuôi.

Qua khảo sát, hệ thống ao lót bạt cũng giúp hộ nuôi thuận lợi hơn trong kiểm soát môi trường nước, từ pH, độ kiềm đến khí độc và các yếu tố liên quan; đồng thời hạn chế nguồn lây nhiễm từ nền đáy ao. Việc tận dụng hệ thống công trình đã có để chuyển đổi đối tượng nuôi còn giúp hộ giảm nhu cầu đầu tư xây dựng mới.

Từ kết quả bước đầu, mô hình cũng đưa ra các chỉ tiêu dự kiến để tiếp tục đánh giá hiệu quả. Với một ao diện tích 1.500 m², mật độ thả 60 con/m² và tỷ lệ sống trung bình 80%, số tôm sống đến thời điểm thu hoạch ước khoảng 72.000 con/ao, sản lượng dự kiến khoảng 3,6–4,8 tấn/ao/vụ. Nếu tôm đạt kích cỡ 15 con/kg, giá bán 310.000 đồng/kg, lợi nhuận sau khi trừ các khoản chi phí được dự kiến khoảng 70.000–90.000 đồng/kg, tùy thời điểm và giá thị trường.

Tuy nhiên, đây mới là các chỉ tiêu ước tính và kết quả của một số ao đã thu hoạch, do đó chưa thể xem là cơ sở để khẳng định hiệu quả ổn định của mô hình trên diện rộng. Việc tiếp tục theo dõi các ao còn lại, ghi chép đầy đủ chi phí, doanh thu và các chỉ tiêu kỹ thuật trong suốt vụ nuôi là cần thiết để có đánh giá toàn diện hơn.

Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau, bên cạnh kết quả tích cực, mô hình vẫn còn những vấn đề cần lưu ý, nhất là chi phí đầu tư ban đầu đối với hệ thống ao lót bạt tương đối cao. Nguồn tôm sú giống gia hóa phục vụ sản xuất cũng chưa thật sự ổn định về số lượng và chất lượng.

Đoàn khảo sát đề nghị chủ hộ tiếp tục theo dõi chặt chẽ quá trình sinh trưởng, phát triển của tôm; ghi chép đầy đủ số liệu đến khi kết thúc vụ nuôi. Trên cơ sở đó, đánh giá hiệu quả theo từng mật độ nuôi, kích cỡ thu hoạch và thời gian nuôi để xác định phương án sản xuất phù hợp.

Bình Nguyên

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài