(TSVN) – Cá heo xuất hiện quanh ngư cụ, lấy cá, làm rách lưới hoặc khiến tàu phải gián đoạn khai thác là tình huống không hiếm gặp với một số nghề cá xa bờ. Với ngư dân, đó là thiệt hại về sản lượng, thời gian và chi phí. Nhưng cá heo, cá voi, bò biển và nhiều loài thú biển lại là những loài cần được bảo vệ. Bài toán vì vậy không chỉ là giảm thiệt hại cho ngư dân, mà còn phải hạn chế nguy cơ gây thương tích hoặc tử vong ngoài ý muốn đối với thú biển, hướng tới nghề cá có trách nhiệm và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Những “vị khách không mời” ngoài khơi
Gần 20 năm gắn bó với nghề biển, ông Lê Văn Xơ, chủ tàu BĐ-95894-TS, làm nghề lưới vây ở phường Hoài Nhơn Đông, đã quen với cảnh cá heo xuất hiện quanh tàu. Theo ông, ở những ngư trường xa bờ, có thời điểm đàn cá heo lên tới hàng trăm con. Khi phát hiện nguồn thức ăn, chúng có thể tiếp cận ngư cụ, lấy cá, mực hoặc mắc vào lưới. Có trường hợp lưới bị cắn rách, tàu phải dừng khai thác để xử lý, vừa mất thời gian vừa phát sinh chi phí.
Tình trạng này không chỉ xảy ra với nghề lưới vây. Một số nghề sử dụng ánh sáng để tập trung nguồn lợi, như mành chụp hoặc khai thác cá ngừ, cũng có thể thu hút thú biển đến gần khu vực khai thác.
Xung đột vì thế khá rõ: ngư dân cần bảo vệ ngư cụ, sản phẩm và sinh kế, trong khi thú biển cần được bảo vệ trước nguy cơ mắc ngư cụ hoặc bị tổn thương do hoạt động khai thác. Lời giải phù hợp phải đồng thời đáp ứng hai yêu cầu này, thay vì chỉ giải quyết thiệt hại trước mắt cho một phía.
Thiết bị xua đuổi: Có hiệu quả nhưng chưa phải lời giải hoàn chỉnh
Khoảng giai đoạn 2019-2021, một số ngư dân tại Hoài Hương, nay thuộc phường Hoài Nhơn Đông, bắt đầu sử dụng thiết bị xua đuổi cá heo Dolphin Dissuasive Device (DDD 03) do Italia sản xuất. Thiết bị phát tín hiệu âm thanh dưới nước nhằm làm cá heo tránh xa khu vực đặt ngư cụ.
Ông Phan Cất, ngư dân có nhiều năm làm nghề câu cá ngừ đại dương, là một trong những người sớm mua thiết bị. Năm 2019, ông chi khoảng 16 triệu đồng để trang bị máy. Theo ông Cất, thiết bị hoạt động khá tốt khi còn mới nhưng hiệu quả giảm khi pin xuống cấp. Khi cá heo xuất hiện với số lượng lớn, khả năng xua đuổi cũng giảm. Việc bảo dưỡng còn bất tiện vì ngư dân khó tự kiểm tra, khi hỏng phải gửi thiết bị đi sửa chữa.
Ngư dân Lê Văn Xơ với thiết bị xua đuổi cá heo đã sử dụng từ năm 2019. Ảnh: Ái Trinh
Những phản ánh từ thực tế cho thấy thiết bị xua đuổi có thể hỗ trợ ngư dân, nhưng chưa phải giải pháp tuyệt đối. Hiệu quả của thiết bị còn phụ thuộc vào tình trạng máy, điều kiện vận hành, loại nghề, mật độ thú biển và cách sử dụng. Vì vậy, cần có đánh giá bằng số liệu thực tế thay vì chỉ dựa vào cảm nhận của từng người sử dụng.
Đánh giá hiệu quả từ thực tiễn sản xuất
Theo rà soát trên địa bàn tỉnh Gia Lai, hiện có 63 tàu cá tại Hoài Nhơn Đông, Hoài Nhơn Tây và Cát Tiến đã trang bị tổng cộng 121 thiết bị xua đuổi thú biển. Thiết bị chủ yếu được sử dụng trên tàu lưới vây kết hợp ánh sáng, mành chụp và câu cá ngừ; mỗi tàu lắp từ một đến ba thiết bị. Ghi nhận ban đầu cho thấy các thiết bị nhìn chung hoạt động ổn định, song hiệu quả xua đuổi được đánh giá ở mức trung bình.
Ngày 14/9, tại Cảng cá Tam Quan, Chi cục Thủy sản tỉnh Gia Lai phối hợp với Trung tâm Kinh tế và Quy hoạch thủy sản tổ chức khảo sát thực tế. Đoàn công tác thu thập thông tin về sự xuất hiện và tương tác của thú biển với hoạt động khai thác, đồng thời trực tiếp phỏng vấn 15 ngư dân đang sử dụng thiết bị.
Theo TS. Nguyễn Văn Giang, Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển cộng đồng nghề cá, Trung tâm Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, nhiệm vụ được Cục Thủy sản và Kiểm ngư giao nhằm đánh giá thực trạng và cung cấp thông tin phục vụ báo cáo với phía Hoa Kỳ.
TS. Nguyễn Văn Giang, Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển cộng đồng nghề cá, Trung tâm Kinh tế và Quy hoạch thủy sản trao đổi phỏng vấn bà con ngư dân tại cẩng cá Tam Quan. Ảnh: Ái Trinh
Khảo sát tập trung vào năm vấn đề chính: hiện trạng các nghề cá đang sử dụng thiết bị; hiệu quả xua đuổi đối với từng nghề; định hướng và chính sách giảm tương tác ngoài ý muốn với thú biển; những biện pháp cần tiếp tục triển khai; và những thay đổi cần thiết để hoạt động khai thác giảm tác động đến các loài được bảo vệ.
Điều quan trọng là kết quả khảo sát không chỉ trả lời câu hỏi một chiếc máy có “đuổi được cá heo hay không”, mà còn phải xác định thiết bị phù hợp với nghề nào, điều kiện sử dụng ra sao và cần kết hợp với những biện pháp quản lý nào để đạt hiệu quả thực chất.
Từ bảo tồn đến yêu cầu của thị trường
Xung đột giữa ngư dân và thú biển hiện không chỉ là vấn đề sinh kế và bảo tồn trong nước mà còn gắn trực tiếp với yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Theo nội dung báo cáo, quy định nhập khẩu theo Đạo luật Bảo vệ thú biển của Hoa Kỳ yêu cầu các quốc gia xuất khẩu thủy sản phải chứng minh các biện pháp quản lý nghề cá có hiệu quả tương đương trong việc giảm tử vong và thương tích nghiêm trọng ngoài ý muốn đối với thú biển.
Trong đợt đánh giá năm 2025, Hoa Kỳ xem xét 2.500 nghề cá của 135 quốc gia. Việt Nam được công nhận tương đương đối với 11 nghề cá, trong khi 12 nghề cá khác bị từ chối công nhận. Theo đó, sản phẩm liên quan đến các nghề cá bị từ chối bị cấm nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ ngày 1/1/2026.
Cá heo bị vướng lưới khai thác của ngư dân và bị tử vong. Ảnh minh họa.
Tuy nhiên, các quốc gia bị từ chối vẫn có thể bổ sung thông tin mới để được xem xét lại. Điều đó cho thấy việc thu thập dữ liệu, chứng minh hiệu quả của các biện pháp giảm tương tác với thú biển và từng bước cải thiện phương thức khai thác có ý nghĩa không chỉ đối với bảo tồn mà còn đối với khả năng tiếp cận thị trường.
Cần một gói giải pháp thay vì chỉ một thiết bị
Về lâu dài, khó có một thiết bị đơn lẻ nào giải quyết hoàn toàn xung đột giữa ngư dân và thú biển. Thiết bị xua đuổi chỉ nên được xem là một công cụ trong tổng thể các biện pháp quản lý.
TS Giang cho biết “cần đánh giá mức độ tương tác với thú biển theo từng nghề; lựa chọn thiết bị và cách bố trí phù hợp; hướng dẫn ngư dân vận hành, bảo dưỡng và xử lý khi thú biển mắc ngư cụ; tăng cường ghi nhận các vụ tương tác; nghiên cứu cải tiến ngư cụ và phương thức khai thác; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu đủ tin cậy để đánh giá hiệu quả quản lý. Quan trọng hơn, các giải pháp phải được xây dựng từ thực tiễn sản xuất và có sự tham gia của chính ngư dân. Bởi nếu một biện pháp bảo tồn quá tốn kém, khó vận hành hoặc làm gia tăng đáng kể chi phí chuyến biển, khả năng áp dụng lâu dài sẽ hạn chế”.
Giảm tương tác bất lợi giữa hoạt động khai thác và thú biển vì thế không chỉ nhằm bảo vệ cá heo hay giảm những tấm lưới bị cắn rách. Đó là bài toán hài hòa giữa bảo tồn và sinh kế, giữa yêu cầu quản lý trong nước với các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.
Nếu tìm được giải pháp phù hợp, ngư dân có thể giảm tổn thất, thú biển được bảo vệ tốt hơn và nghề cá Việt Nam cũng có thêm cơ sở để tiến tới phương thức khai thác có trách nhiệm, bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì cơ hội tiếp cận các thị trường xuất khẩu quan trọng./.
ÁI TRINH