(TSVN) – Từ yêu cầu bảo đảm nguồn cung, sản xuất giống thủy sản đang ngày càng chú trọng hơn đến chất lượng, an toàn dịch bệnh và khả năng truy xuất. Sự phát triển của công nghệ chọn tạo, xét nghiệm, kiểm soát môi trường và số hóa dữ liệu đang mở thêm cơ hội nâng cao chất lượng con giống, tăng độ tin cậy và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất, thị trường.
Trong chuỗi sản xuất thủy sản, con giống là khâu đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cả vụ nuôi. Một đàn giống có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, đồng đều và thích nghi tốt với điều kiện sản xuất sẽ tạo nền tảng thuận lợi để vật nuôi sinh trưởng, nâng tỷ lệ sống và rút ngắn thời gian đạt kích cỡ thu hoạch. Ngược lại, giống yếu, không đồng đều hoặc mang mầm bệnh có thể làm gia tăng rủi ro ngay từ đầu vụ, kéo theo chi phí phát sinh và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế.
Thực tế sản xuất cho thấy, ngay cả khi áp dụng cùng quy trình kỹ thuật, điều kiện môi trường và loại thức ăn, kết quả giữa các cơ sở nuôi vẫn có thể khác nhau. Chất lượng đầu vào là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt đó. Khi con giống có nền tảng sức khỏe và chất lượng di truyền tốt, người nuôi có nhiều điều kiện hơn để quản lý các yếu tố trong suốt vụ sản xuất; ngược lại, những hạn chế hình thành từ con giống rất khó được bù đắp hoàn toàn bằng các biện pháp chăm sóc về sau.
Cùng với yêu cầu về năng suất, thị trường ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, lịch sử đàn bố mẹ, tình trạng dịch bệnh và khả năng truy xuất của con giống. Đối với các chuỗi sản xuất hướng đến xuất khẩu, yêu cầu về an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh ngay từ khâu giống càng được đặt lên hàng đầu. Sản xuất giống vì thế đứng trước yêu cầu chuyển từ bảo đảm số lượng sang nâng cao đồng thời chất lượng, độ an toàn và tính minh bạch của nguồn giống.
Những năm qua, sản xuất giống thủy sản trong nước có bước phát triển, từng bước đáp ứng nhu cầu của các đối tượng nuôi chủ lực và mở rộng sang nhiều loài có giá trị kinh tế. Năng lực sản xuất được cải thiện rõ hơn ở các đối tượng chủ lực như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra, cá rô phi và một số loài thủy sản biển.
Sản xuất giống thủy sản đang từng bước chuyển sang quy mô công nghiệp, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và doanh nghiệp FDI. Các cơ sở đầu tư nhỏ lẻ, hoạt động kém hiệu quả, không đủ sức cạnh tranh từng bước được thu hẹp. Hầu hết cơ sở sản xuất giống chấp hành các quy định quản lý, sử dụng giống bố mẹ có nguồn gốc rõ ràng, chú trọng kiểm soát môi trường, dịch bệnh và lợi ích của người nuôi. Nhiều cơ sở còn kết hợp tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ người nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất.
Hoạt động cung ứng giống cũng ngày càng được tổ chức bài bản, với việc doanh nghiệp chủ động xây dựng thị trường và ký kết với các vùng nuôi. Đối với các đối tượng chủ lực có giá trị kinh tế, tiềm năng xuất khẩu, công nghệ sản xuất giống cơ bản đã được làm chủ, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng.
Ngành thủy sản đặt mục tiêu năm 2026 sản xuất 390 - 410 tỷ con giống, đồng thời định hướng phát triển mạnh các cơ sở chọn tạo giống bố mẹ trong nước, với kế hoạch đạt 50.000 - 60.000 tôm sú bố mẹ và 150.000 - 200.000 tôm thẻ chân trắng bố mẹ.
Đáng chú ý, năng lực chọn tạo và nghiên cứu giống trong nước cũng có bước tiến. Từ năm 2010 đến hết năm 2025, ngân sách nhà nước đã đầu tư gần 900 tỷ đồng cho 271 nhiệm vụ khoa học – công nghệ, tập trung vào chọn tạo các giống có tốc độ tăng trưởng nhanh và khả năng kháng bệnh. Cá tra thế hệ G5 được ghi nhận có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 15,4% so với thế hệ G4; một số nghiên cứu đã xác định chỉ thị phân tử liên quan đến tính trạng kháng bệnh gan thận mủ.
Trong lĩnh vực tôm nước lợ, Việt Nam đã chủ động sản xuất đàn tôm sú giống thế hệ G7 và tôm chân trắng thế hệ G8 – G9. Các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, II và III (nay thuộc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam), đã làm chủ công nghệ sản xuất giống cho 23 loài cá biển giá trị cao; đồng thời sản xuất thành công hàng triệu con giống nhuyễn thể tam bội và tứ bội. Với cá nước lạnh, năm 2025 các đơn vị sản xuất khoảng 6 triệu con giống, đáp ứng trên 40% nhu cầu cá tầm giống trong nước.
Những kết quả này cho thấy chất lượng giống ngày càng được chú trọng bên cạnh yêu cầu về số lượng và khả năng đáp ứng nguồn cung. Đây là cơ sở để nâng cao tính chủ động về nguồn giống và giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài ở một số đối tượng. Tuy nhiên, để chất lượng được duy trì ổn định, vẫn cần giải quyết những hạn chế từ hạ tầng, nguồn bố mẹ đến quản lý sản xuất và kiểm soát dịch bệnh.
Hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất giống thủy sản còn thiếu và chưa đồng bộ. Số vùng sản xuất tập trung đáp ứng đồng thời yêu cầu về quy mô, điều kiện kỹ thuật và an toàn sinh học còn hạn chế. Một số vùng đã được đầu tư từ trước nhưng nay xuống cấp, ảnh hưởng đến khả năng tổ chức sản xuất ổn định. Đáng chú ý, hạ tầng phục vụ nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống bố mẹ trong nước vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, khiến quá trình nâng cao chất lượng và chủ động nguồn giống còn gặp khó khăn.
Cơ chế, chính sách phát triển giống thủy sản đã được ban hành nhưng vẫn còn những khoảng trống, chưa tạo được động lực đủ mạnh để thu hút thêm nguồn lực xã hội. Các chính sách liên quan đến đất đai, vốn và đầu tư cho cơ sở sản xuất, vùng giống tập trung cần được quan tâm hơn, nhất là với các dự án có quy mô lớn, yêu cầu đầu tư dài hạn và thời gian thu hồi vốn tương đối dài.
Khả năng chủ động tôm bố mẹ từ nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất trong nước còn hạn chế. Hiện khoảng 87% tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, trong khi khoảng 40% tôm sú bố mẹ có nguồn gốc từ khai thác tự nhiên. Nguồn bố mẹ sản xuất trong nước mới đáp ứng một phần nhu cầu, khiến sản xuất tôm giống vẫn chịu tác động lớn từ nguồn cung bên ngoài và khó chủ động hoàn toàn về chất lượng, số lượng.
Việc chấp hành các quy định pháp luật trong sản xuất, ương dưỡng và cung ứng giống đã có nhiều chuyển biến nhưng chưa đồng đều giữa các cơ sở. Một số cơ sở vẫn chưa được kiểm tra, đánh giá và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện theo quy định. Đối với tôm bố mẹ khai thác từ tự nhiên, công tác quản lý cũng gặp khó khăn khi hoạt động khai thác còn nhỏ lẻ, phân tán, một số hộ chưa thực hiện khai báo với cơ quan quản lý, gây khó khăn cho việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng.
Giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc vẫn xuất hiện, nhất là ở các vùng nuôi nhỏ lẻ. Công tác quản lý chưa đồng bộ, trong khi nguồn lực thanh tra, kiểm tra chuyên ngành còn hạn chế, khiến việc kiểm soát chất lượng, nguồn gốc giống và xử lý vi phạm chưa đạt yêu cầu.
Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng con giống. Trước hết là chất lượng đàn bố mẹ. Việc lựa chọn, quản lý và cải thiện di truyền nếu không được thực hiện phù hợp có thể làm suy giảm những tính trạng mong muốn qua các thế hệ. Nguy cơ cận huyết, giảm tốc độ tăng trưởng hoặc khả năng thích nghi vì thế có thể ảnh hưởng đến chất lượng giống về lâu dài.
Dịch bệnh là một trong những vấn đề cần được kiểm soát xuyên suốt quá trình sản xuất giống thủy sản. Biến động nhiệt độ, chất lượng nguồn nước và các yếu tố môi trường tác động trực tiếp đến sức khỏe con giống, làm gia tăng nguy cơ bùng phát và lây lan dịch bệnh.
Mầm bệnh có thể xâm nhập từ đàn bố mẹ, nguồn nước, thức ăn, dụng cụ, con người hoặc phương tiện ra vào cơ sở. Đáng lưu ý, một số đàn giống có thể mang tác nhân gây bệnh nhưng chưa biểu hiện rõ tại thời điểm xuất bán. Nếu không được kiểm tra, sàng lọc phù hợp, mầm bệnh có thể theo con giống vào cơ sở nuôi, làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh và chi phí kiểm soát.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng giống thủy sản, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ quản lý đàn bố mẹ, sản xuất, ương dưỡng đến kiểm soát khi lưu thông trên thị trường.
Trước hết, quản lý chặt nguồn gốc đàn bố mẹ, chú trọng chọn tạo, duy trì đa dạng di truyền và từng bước nâng cao năng lực chủ động về giống bố mẹ trong nước. Với các đối tượng chủ lực, hoàn thiện quy trình sản xuất giống, lựa chọn các dòng có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với điều kiện môi trường và đáp ứng yêu cầu thực tế của người nuôi.
Cùng với đó, kiểm soát an toàn dịch bệnh tại các cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống; thực hiện đầy đủ yêu cầu về an toàn sinh học, chất lượng nước, vệ sinh và phòng ngừa tác nhân gây bệnh. Công tác kiểm dịch cần được thực hiện chặt chẽ, nhất là đối với giống vận chuyển giữa các địa phương. Việc kiểm tra nguồn gốc và xử lý vi phạm cũng phải được thực hiện nghiêm.
Về quản lý, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu giống thủy sản, cập nhật thông tin về cơ sở sản xuất, đối tượng, sản lượng và chất lượng giống; từng bước ứng dụng số hóa trong theo dõi, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý có thông tin đầy đủ phục vụ dự báo nhu cầu, định hướng sản xuất.
Đồng thời, đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật, nâng cấp hạ tầng vùng sản xuất giống tập trung và phát huy sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất. Qua đó, hình thành nguồn giống chất lượng, an toàn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của ngành thủy sản.
Ông Trần Công Khôi
Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường)
Những rủi ro trong quá trình sản xuất đặt ra yêu cầu phải tăng khả năng kiểm soát ngay từ đàn bố mẹ và từng công đoạn tạo ra con giống. Để thực hiện yêu cầu này, khoa học và công nghệ có thể tham gia sâu hơn vào từng khâu, từ chọn tạo, xét nghiệm, kiểm soát môi trường đến theo dõi và đánh giá chất lượng giống. Các công nghệ xét nghiệm, chọn giống, giám sát chỉ tiêu môi trường và số hóa dữ liệu có thể hỗ trợ cơ sở sản xuất nhận diện sớm rủi ro, điều chỉnh quy trình và kiểm soát chất lượng từng lô giống.
Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất cần chuẩn hóa quy trình từ đàn bố mẹ, sinh sản, ương dưỡng đến đóng gói và vận chuyển. Nguồn bố mẹ phải có nguồn gốc rõ ràng, được theo dõi về đặc tính di truyền và tình trạng sức khỏe. Điều kiện nước, dinh dưỡng, mật độ ương và an toàn sinh học cần được kiểm soát phù hợp với từng loài, từng giai đoạn. Hồ sơ về nguồn gốc, quá trình sản xuất, kết quả kiểm tra và xuất bán cũng cần được lưu giữ đầy đủ, tạo cơ sở cho đánh giá chất lượng và truy xuất khi cần.
Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ từ Nhà nước để các cơ sở sản xuất có điều kiện đầu tư nâng cấp hạ tầng, tiếp cận công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất. Sự hỗ trợ có thể tập trung vào nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực và kiểm soát dịch bệnh, nhất là đối với các cơ sở còn hạn chế về quy mô và điều kiện đầu tư.
Về lâu dài, việc hình thành các trung tâm nghiên cứu, sản xuất và ương dưỡng giống thủy sản quy mô lớn sẽ tạo nền tảng cho quá trình chủ động nguồn giống. Các trung tâm này không chỉ tạo nguồn giống chất lượng mà còn có thể trở thành đầu mối nghiên cứu, lưu giữ nguồn gen, chọn tạo và chuyển giao công nghệ, qua đó nâng khả năng chủ động nguồn giống và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.
Nguyễn An