Hướng dẫn mới về cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành văn bản hợp nhất hướng dẫn cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Quy định mới làm rõ việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn và quy định tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản bảo đảm của các khoản vay trong lĩnh vực này.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 103/2026/VBHN-TT-NHNN hướng dẫn tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Văn bản này hướng dẫn hoạt động cho vay theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 116/2018/NĐ-CP và Nghị định số 156/2025/NĐ-CP.

Đối tượng áp dụng theo quy định mới này gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định, trừ Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Khách hàng vay vốn là các đối tượng được quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản.

Nới rộng quy định về vay vốn trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ảnh: ST

Văn bản cũng nêu rõ, đối với những nội dung không được quy định cụ thể tại Thông tư, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo các quy định pháp luật có liên quan. Đối với khách hàng gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, trên cơ sở đề nghị của khách hàng, khả năng tài chính và điều kiện thực tế, tổ chức tín dụng có thể xem xét quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ gốc và/hoặc lãi. Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định, khoản nợ được cơ cấu lại có thể được giữ nguyên nhóm nợ như nhóm nợ đã được phân loại tại thời điểm gần nhất trước khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Để được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khoản vay phải đáp ứng một số điều kiện. Trước hết, số dư nợ gốc phải phát sinh trước hoặc trong khoảng thời gian xảy ra nguyên nhân khách quan, bất khả kháng cụ thể. Bên cạnh đó, số dư nợ gốc, lãi của từng kỳ hạn trả nợ được cơ cấu lại phải còn trong hạn hoặc quá hạn không quá 10 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, trả nợ theo thỏa thuận. Đồng thời, khách hàng cũng phải được tổ chức tín dụng đánh giá là gặp khó khăn, không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi đã thỏa thuận do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng cụ thể, nhưng vẫn có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định này không bị giới hạn về số lần. Tuy nhiên, thời gian cơ cấu lại đối với cùng một nguyên nhân khách quan, bất khả kháng cụ thể được giới hạn theo thời hạn của khoản vay.

Đối với khoản vay ngắn hạn, tổng thời gian cơ cấu lại không vượt quá 12 tháng kể từ ngày đến hạn của từng số dư nợ gốc, lãi được cơ cấu lại. Với khoản vay trung, dài hạn, thời gian cơ cấu lại không vượt quá 36 tháng kể từ ngày đến hạn của từng số dư nợ gốc, lãi được cơ cấu lại. Ngày đến hạn làm căn cứ xác định thời gian cơ cấu lại là ngày đến hạn của từng số dư nợ theo thời hạn, kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận tại thời điểm gần nhất trước khi lần đầu tiên thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định này đối với cùng một nguyên nhân khách quan, bất khả kháng cụ thể.

Đối với các khoản nợ đã từng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo các quy định pháp luật khác, nếu đáp ứng các điều kiện của Văn bản hợp nhất số 103/2026/VBHN-TT-NHNN, tổ chức tín dụng vẫn được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định mới.

Một quy định quan trọng khác trong văn bản này là tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản bảo đảm của các khoản vay thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, tỷ lệ khấu trừ tối đa được xác định bằng tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản bảo đảm theo quy định của Chính phủ về mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Việc thống nhất quy định về tỷ lệ khấu trừ tài sản bảo đảm góp phần tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng xác định giá trị tài sản bảo đảm khi xem xét, quản lý và xử lý các khoản vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Văn bản hợp nhất số 103/2026/VBHN-TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2025, hợp nhất các quy định hướng dẫn cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo các quy định pháp luật hiện hành.

Bảo Hân

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài