(TSVN) – UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Kế hoạch thực hiện điều chỉnh Đề án tổng thể phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Phú Yên (cũ), giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 (Đề án 190), với trọng tâm sắp xếp lại hoạt động nuôi lồng bè theo quy hoạch, sức chịu tải môi trường và hướng tới phát triển nuôi biển bền vững.
Mục tiêu của kế hoạch là nhằm rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng nuôi trồng thủy sản lồng bè tại các đầm, vịnh, cửa sông và vùng biển mở ven bờ; đồng thời đánh giá tình hình quản lý, sử dụng khu vực biển, tình trạng pháp lý và những tồn tại trong quản lý để xây dựng phương án sắp xếp hoạt động nuôi trồng thủy sản. Đây cũng là cơ sở để tỉnh đánh giá mức độ phù hợp của các khu vực nuôi hiện nay với hệ thống quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, từ đó xây dựng phương án tổ chức lại hoạt động nuôi lồng bè theo hướng tập trung, hiện đại, bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên và sức chịu tải môi trường.
Kế hoạch hướng tới vừa bảo đảm ổn định sản xuất của người dân, vừa gắn hoạt động nuôi trồng thủy sản với bảo vệ môi trường, cảnh quan, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển. Đối với các trường hợp nuôi không phù hợp quy hoạch, tỉnh sẽ xây dựng phương án xử lý công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật và thống nhất trong xử lý vi phạm hành chính.
Phạm vi rà soát theo kế hoạch gồm 10 xã, phường thuộc khu vực Phú Yên (cũ), nay thuộc tỉnh Đắk Lắk, gồm Xuân Lộc, Sông Cầu, Xuân Đài, Tuy An Đông, Ô Loan, Tuy An Nam, Hòa Xuân, Xuân Cảnh, Tuy An Bắc và Hòa Hiệp.

Tỉnh Đắk Lắk thực hiện kiểm đếm, thống kê đầy đủ hiện trạng nuôi thủy sản lồng bè trên địa bàn. Ảnh: Phước Hoài
Một trong những nội dung được điều chỉnh lần này của tỉnh Đắk Lắk là kiểm đếm, thống kê đầy đủ hiện trạng nuôi lồng bè, xác định tình trạng pháp lý và hiện trạng sử dụng khu vực biển. Trong đó, các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản sẽ được phân loại theo địa bàn, thời điểm phát sinh và điều kiện hoạt động; trong đó xác định những cơ sở đủ điều kiện tiếp tục sản xuất, đồng thời xây dựng lộ trình giảm mật độ, di dời hoặc chấm dứt hoạt động đối với những trường hợp không phù hợp.
Tỉnh Đắk Lắk cũng sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng nuôi trồng thủy sản phục vụ quản lý và điều chỉnh Đề án 190. Hoạt động nuôi hiện trạng sẽ được đối chiếu với quy hoạch của tỉnh, quy hoạch không gian biển quốc gia và các quy hoạch, kế hoạch liên quan để xác định những khu vực được tiếp tục duy trì, mở rộng, điều chỉnh hoặc chấm dứt.
Mặt khác, kế hoạch cũng sẽ đánh giá tác động của hoạt động nuôi lồng bè, xác định các khu vực có nguy cơ ô nhiễm hoặc vượt sức chịu tải để có giải pháp quản lý phù hợp. Việc thu gom, xử lý chất thải, quan trắc và cảnh báo môi trường sẽ được tăng cường, nhất là tại các khu vực có mật độ nuôi cao; đồng thời khuyến khích công nghệ nuôi thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trên cơ sở kết quả rà soát, tỉnh sẽ xây dựng phương án sắp xếp lại hoạt động nuôi lồng bè, bố trí các đối tượng nuôi phù hợp sau khi Đề án 190 được điều chỉnh; quy hoạch, đầu tư hạ tầng và phát triển vùng sản xuất giống phục vụ nuôi biển bền vững.
Tỉnh sẽ định hướng số hóa hoạt động nuôi biển thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa lồng bè và gắn mã định danh cho cơ sở nuôi; Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ phát triển nuôi biển công nghệ cao, chuyển đổi nghề đối với các hộ bị ảnh hưởng trong quá trình sắp xếp, hỗ trợ chuyển đổi vật liệu lồng bè, cải tiến công nghệ nuôi và thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Cùng với đó, tỉnh sẽ rà soát tổng thể các quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư tại vịnh Xuân Đài, Vũng Rô và các vùng nuôi thủy sản trọng điểm nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển.
Một nhiệm vụ quan trọng, thực hiện xuyên suốt, song song với quá trình thực hiện việc điều chỉnh Đề án 190 của tỉnh lần này là tăng cường quản lý nhà nước, kiểm tra và giám sát chặt hoạt động nuôi lồng bè, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm, không để phát sinh hoặc tái diễn các lồng bè nuôi trái phép. Trong đó, chính quyền địa phương phải quản lý đầy đủ biến động về tổ chức, cá nhân, diện tích, số lượng lồng bè và đối tượng nuôi; đồng thời gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả quản lý.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì lựa chọn đơn vị tư vấn, tổ chức rà soát và hoàn thiện phương án điều chỉnh. Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, trong đó có GIS, số hóa dữ liệu khu vực nuôi và lồng bè, xác định tọa độ, ranh giới các vùng nuôi trên nền bản đồ số.
Đối với các xã, phường trong phạm vi kế hoạch, tỉnh yêu cầu rà soát, kiểm đếm chính xác hiện trạng, lập danh sách và phân loại các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản theo tình trạng pháp lý; đề xuất phương án bố trí các hộ nuôi vào khu vực phù hợp quy hoạch, đồng thời xây dựng lộ trình di dời, giảm mật độ, chuyển đổi đối tượng hoặc hình thức nuôi tại những khu vực cần sắp xếp lại.
Theo đánh giá, việc điều chỉnh Đề án 190 được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn để tỉnh Đắk Lắk tổ chức lại không gian nuôi trồng thủy sản ven biển, nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế phát sinh nuôi tự phát, đồng thời mở hướng phát triển nuôi biển theo hướng công nghệ cao, thân thiện môi trường và bền vững.
Bảo Hân