Kiến nghị làm rõ cách tính sản lượng cá ngừ xuất khẩu sang EU theo EVFTA

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Theo VASEP, cách Liên minh châu Âu (EU) tính toán tỷ lệ cá ngừ vây vàng khai thác trong nước được sử dụng để sản xuất phi-lê đông lạnh xuất khẩu theo Hiệp định EVFTA năm 2022 chưa phản ánh đầy đủ thực tế sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa có văn bản gửi Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cung cấp thông tin, số liệu giải trình với Liên minh châu Âu (EU) liên quan đến quy tắc xuất xứ và sản lượng khai thác cá ngừ theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Nội dung văn bản nêu rõ, theo phân tích của EU, năm 2022, Việt Nam xuất khẩu 3.004 tấn phi-lê cá ngừ đông lạnh sang thị trường này được hưởng ưu đãi thuế quan EVFTA, trong khi sản lượng cá ngừ vây vàng khai thác trong nước đạt 19.941 tấn. Từ các số liệu này, EU nhận định khoảng 33,3% sản lượng cá ngừ vây vàng khai thác của Việt Nam trong năm đã được xuất khẩu sang EU dưới dạng phi-lê đông lạnh.

Tuy nhiên, VASEP cho rằng nhận định trên chưa phản ánh đầy đủ thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành cá ngừ. Nguyên liệu chế biến sản phẩm xuất khẩu trong năm 2022 không nhất thiết được khai thác trong cùng năm, bởi hoạt động thu mua, bảo quản, dự trữ nguyên liệu và chế biến diễn ra liên tục giữa các năm. Do đó, một phần sản phẩm xuất khẩu năm 2022 có thể được chế biến từ nguyên liệu khai thác năm 2021, sau đó lưu kho, bảo quản để phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Bên cạnh đó, việc lấy sản lượng khai thác cá ngừ vây vàng riêng trong năm 2022 để đối chiếu với toàn bộ khối lượng sản phẩm xuất khẩu cùng năm chưa tính đến yếu tố tồn kho, thời điểm chế biến cũng như sự khác biệt giữa khối lượng nguyên liệu và thành phẩm sau chế biến.

Xuất khẩu cá ngừ sang thị trường EU nửa đầu năm 2026 vẫn giảm. Ảnh: Báo Công Thương

Trong văn bản gửi Cục Thủy sản và Kiểm ngư, VASEP cũng chỉ ra điểm chưa thống nhất trong phép tính của EU. Cụ thể, Phụ lục phân tích của EU nêu tỷ lệ 33,3% nhưng phép tính thể hiện là 3.004/19.941 tấn, tương đương khoảng 15,1%. Trong khi đó, nếu quy đổi 3.004 tấn thành phẩm sang 6.608 tấn nguyên liệu theo định mức 2,2:1 mà EU giả định, tỷ lệ mới đạt khoảng 33,1%. Vì vậy, cần làm rõ cơ sở và phương pháp tính toán, tránh nhầm lẫn giữa khối lượng thành phẩm và khối lượng nguyên liệu.

Ngoài ra, VASEP cũng đề nghị làm rõ phạm vi sản phẩm mà EU sử dụng trong phân tích. Cụ thể, khái niệm “frozen tuna fillets” và khối lượng thống kê theo mã HS 0304.87 được hiểu là chỉ sản phẩm phi-lê cá ngừ đông lạnh hay bao gồm các quy cách sản phẩm khác như loin, steak, saku, cube, tartar, burger… Các dạng sản phẩm có quy trình chế biến và tỷ lệ thu hồi chế biến khác nhau, do đó cần xác định rõ cơ cấu sản phẩm trước khi áp dụng định mức quy đổi.

Mặt khác, theo thông tin từ một số doanh nghiệp, cá ngừ đại dương khi tiếp nhận tại nhà máy phần lớn đã được sơ chế ở dạng GG (loại bỏ mang và nội tạng), công đoạn thường được thực hiện ngay trên biển. Vì vậy, cơ sở tính tỷ lệ thu hồi cần được xác định rõ là từ cá nguyên con hay nguyên liệu dạng GG.

Thực tế, đối với sản phẩm phi-lê cá ngừ đông lạnh, tỷ lệ nguyên liệu đầu vào so với thành phẩm thường dao động từ 1,25:1 đến 1,5:1. Với sản phẩm loin, tỷ lệ này có thể từ 1,5:1 đến 2,0:1; trong khi các quy cách steak, saku, cube có thể dao động từ 2,0:1 đến 2,7:1. Các mức này phụ thuộc vào kích cỡ, chất lượng cá, dạng nguyên liệu đầu vào, mức độ sơ chế, yêu cầu kỹ thuật và quy trình sản xuất của từng nhà máy. Do đó, VASEP nhận định việc EU áp dụng thống nhất định mức 2,2:1, tương ứng mức hao hụt và phụ phẩm khoảng 55%, chưa có đủ cơ sở để coi là tỷ lệ chế biến bình quân đại diện cho toàn bộ sản phẩm cá ngừ đông lạnh thuộc phân nhóm HS 0304.87 xuất khẩu từ Việt Nam.

Về cơ cấu loài nguyên liệu, theo số liệu xuất khẩu cá ngừ sang EU do VASEP tổng hợp từ dữ liệu hải quan và thông tin thực tế từ một số doanh nghiệp, cá ngừ vây vàng là loài chủ yếu được sử dụng để sản xuất phi-lê cá ngừ đông lạnh xuất khẩu sang thị trường này. Tuy nhiên, việc xác định chính xác tỷ trọng từng loài trong toàn bộ khối lượng hàng xuất khẩu cần căn cứ vào hồ sơ nguyên liệu, sản xuất và xuất khẩu thực tế của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, theo đề nghị của VASEP, không mặc nhiên xác định toàn bộ sản phẩm thuộc phân nhóm HS 0304.87 xuất khẩu sang EU đều được chế biến từ cá ngừ vây vàng khi chưa có kết quả xác minh cụ thể về cơ cấu loài và quy cách sản phẩm.

Với những thông tin được đưa ra, Hiệp hội VASEP kiến nghị Cục Thủy sản và Kiểm ngư xem xét, tổng hợp và sử dụng trong quá trình trao đổi, giải trình với phía EU, góp phần bảo đảm việc đánh giá số liệu, định mức chế biến và nguồn nguyên liệu cá ngừ phù hợp với thực tiễn hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

Bảo Hân

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!