Chất lượng môi trường nước vùng nuôi tôm hùm, nhuyễn thể và nuôi biển tháng 5/2022

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Vừa qua, Tổng cục Thủy sản đã tiến hành quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường vùng nuôi trồng thuỷ sản với 172 điểm quan trắc trên tôm hùm, nhuyễn thể, nuôi biển tại 29 tỉnh trên cả nước. Từ đó đưa ra những khuyến cáo và có những giải pháp quản lý để tránh thiệt hại do thời tiết gây ra cho các đối tượng thủy sản.

Diễn biến chất lượng nước các vùng

Đối với vùng nuôi tôm hùm: Các thông số quan trắc gồm nhiệt độ, pH, độ mặn, N-NO2, S2-, DO, COD) đều nằm trong giới hạn cho phép (GHCP); có 4/12 thông số nằm ngoài giới hạn cho phép (N-NH4+, P-PO43-, Vibrio tổng số và Coliform), bằng so với cùng kỳ năm 2021. Ngoài ra, phát hiện một số loài tảo độc nhưng với mật độ thấp, chưa ảnh hưởng đến chất lượng nước và tôm hùm nuôi. Trong các thông số nằm ngoài GHCP thì: N-NH4+ có 19/84 mẫu thấp hơn GHCP, chiếm 22,6%, tăng so với năm 2021 (16,7%). P-PO43-có 5/84 mẫu vượt GHCP, chiếm 6,0%. Coliforms có 3/84 mẫu vượt GHCP, chiếm 3,6%, giảm so với cùng kỳ năm 2021 (5,97 %). Mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số các khu nuôi dao động từ 60 – 9.600 CFU/ml, có 13/84 mẫu vượt GHCP, chiếm 15,5%, giảm so với cùng kỳ năm 2021 (20,2%).

 Chỉ số chất lượng nước (WQI): Chất lượng môi trường nước vùng nuôi tôm hùm 4 đợt quan trắc đều ở mức tốt đến rất tốt (VN-WQI=78-96); ngoại trừ đợt thu mẫu tại vùng nuôi Xuân Yên (Phú Yên), Vạn Hưng (Khánh Hòa) đợt 11 và Vạn Hưng (Khánh Hòa) đợt 13 chỉ đạt chất lượng trung bình (VN-WQI=55-68). Chất lượng môi trường nước vùng nuôi tôm hùm tháng 4/2022 giảm tại một số điểm quan trắc so với cùng kỳ năm 2021 (VN-WQI=79-97).

Vùng nuôi tôm hùm. Ảnh: ST

Vùng nuôi nhuyễn thể khu vực phía Bắc: Các thông số nhiệt độ, pH, độ kiềm và H2S có giá trị nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép. Độ mặn vùng nuôi ngao và hàu tại Thanh Hoá và Quảng Ninh dao động từ 25 – 34 ‰, độ mặn vùng nuôi ngao – Thái Bình thấp, dao động từ 0 – 3‰ do ảnh hưởng của mưa lớn. Các thông số N-NH4 và N-NO2 ở một số điểm quan trắc cao vượt ngưỡng giới hạn như vùng nuôi ngao tại Thanh Hoá và Thái Bình. Mật độ Vibrio tổng số trong nước vùng nuôi hàu tại xã Hạ Long và Thị Trấn Vân Đồn (Quảng Ninh) cao hơn 2,2 -3,3 lần, tại vùng nuôi ngao Nam Bãi Ngang (Thanh Hoá) cao hơn 13 lần so với quy định. Mật độ Coliform tổng số trong nước vùng nuôi nhuyễn thể cao hơn từ 1 – 460 lần so với QCVN 10-MT:2015/BTNMT. Phát hiện 2 loài vi khuẩn trên ngao, hàu nuôi bao gồm V. alginolyticusV. fluvialis với tần suất bắt gặp 1/3 mẫu kiểm tra. Không phát hiện kí sinh trùng Perkinsus sp. trong các mẫu nhuyễn thể đã thu trong tháng 5/2022.

Chỉ số chất lượng nước (WQI) tháng 5/2022 ở vùng nuôi nhuyễn thể xấu hơn so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số WQI ở mức kém đến rất tốt, trong đó số điểm quan trắc có WQI ở mức kém (2/11 mẫu), mức xấu (6/11 mẫu).

Vùng nuôi nhuyễn thể khu vực ĐBSCL: Các thông số hóa lý đều ở mức cho phép theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT. Ghi nhận Vibrio tổng số cao hơn 103CFU/ml và đồng thời có sự hiện của Vibrio parahaemolyticus trong các thủy vực được khảo sát, ngoại trừ HTX Tân Thủy. Chưa ghi nhận hiện diện của Perkinsus, Rickettsia-like organisms và ký sinh trùng trên mẫu nghêu nuôi. Ghi nhận loài các loài tảo có khả năng gây hại khi nở hoa như Pseudonitzschia spp., Chaetoceros spp., Skeletonema costatum, Euglena spp., Geitlerinema sp. ở các bãi nghêu được khảo sát, tuy nhiên chưa ở mức gây hại cho sinh trưởng và phát triển của nhuyễn thể nuôi.

Vùng nuôi biển: Chất lượng môi trường vùng nuôi biển ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Kiên Giang được quan trắc vẫn tiếp tục ghi nhận biểu hiện bị ô nhiễm chất hữu cơ COD, muối dinh dưỡng N-NH4+ và dầu. Cục bộ một số điểm bị thiếu hụt ôxy ở vùng nuôi của Cát Bà (Hải Phòng), ở hòn Ông Cụ và hòn Béo Cò (Quảng Ninh), Hòn Tre (Kiên Giang). Tuy nhiên, mức độ vượt khoảng GHCP của các thông số này không nhiều. Ghi nhận DO có 14/66 mẫu (tỷ lệ 21,2%) vượt khoảng GHCP; N-NH4+ có 25/66 mẫu (tỷ lệ 37,9%) vượt GHCP, COD có 30/66 mẫu (tỷ lệ 45,5%) vượt GHCP, dầu có 4/33 mẫu (tỷ lệ 12,1%) vượt GHCP. So với đợt quan trắc tháng 3 và 4/2022, kết quả quan trắc trong tháng 5/2022 ghi nhận tỷ lệ số mẫu vượt khoảng GHCP có xu hướng gia tăng. Khoảng giá trị ghi nhận được của các thông số môi trường vùng nuôi ở Cát Bà (Hải Phòng), hòn Ông Cụ (Quảng Ninh) và Hòn Tre (Kiên Giang) thể hiện bất lợi hơn so với đợt quan trắc tháng 3 và 4/2022.

Mật độ Vibrio tổng số ở vùng nuôi của Quảng Ninh và Hải Phòng tăng cao hơn so với đợt tháng 3 và tháng 4/2022; cục bộ tại một số điểm nuôi vẫn ghi nhận mật độ cao và vượt ngưỡng, với 9/33 mẫu vượt ngưỡng (đạt tỷ lệ 27,3%). Các khu vực nuôi có mật độ Vibrio tổng số cao là Bến Bèo (Hải Phòng), hòn Ông Cụ, Béo Cò, Tây Hoi (Quảng Ninh); cá nuôi ở khu vực Bến Bèo (Hải Phòng), hòn Ông Cụ, Béo Cò (Quảng Ninh) bị lở loét và chết rải rác xảy ra ở nhiều bè nuôi.

Chất lượng nước các vùng nuôi biển được quan trắc đều ở mức tốt đến rất tốt, tuy nhiên khu vực nuôi ở Bến Bèo (Hải Phòng), hòn Ông Cụ, Béo Cò (Quảng Ninh), Hòn Tre (Kiên Giang) chất lượng nước gần đạt mức trung bình. Đây là những khu vực nuôi cần được tăng cường theo dõi và quản lý môi trường vùng nuôi, nhất là khu vực nuôi ở Bến Bèo và hòn Ông Cụ đã có hiện tượng cá nuôi bị lở loét và chết rải rác.

Biện pháp ứng phó

Để chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả của thiên tai, nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại cho người nuôi thuỷ sản, ổn định và duy trì hoạt động nuôi trồng thủy sản, Tổng cục Thủy sản đã có văn bản gửi Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương triển khai xây dựng kế hoạch và chủ động tổ chức triển khai các biện pháp phòng, ứng phó hiệu quả với mưa, bão, lũ trong nuôi trồng thủy sản.

Bên cạnh đó, tăng cường truyền tải thông tin về dự báo thời tiết, cảnh báo, dự báo thiên tai, các bản tin thông báo kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường vùng nuôi của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, II, III và cơ quan quản lý địa phương đến người nuôi để chủ động phòng, tránh giảm thiểu thiệt hại; tổ chức rà soát, dự kiến nhu cầu con giống thủy sản; hóa chất xử lý môi trường… phục vụ công tác phục hồi sản xuất thủy sản sau mưa bão.

Ngoài ra, kịp thời chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn cơ sở nuôi các biện pháp phòng chống và khắc phục thiệt do mưa bão, lũ xảy ra để ổn định sản xuất; chủ động thực hiện và phối hợp với các đơn vị chức năng liên quan trong quan trắc, cảnh báo sớm diễn biến môi trường vùng nuôi trồng thủy sản và hướng dẫn người nuôi thống kê chính xác diện tích, mức độ thiệt hại để có cơ sở đề xuất hỗ trợ cho người dân theo quy định,..

Diệu Tâm

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!