(TSVN) – Ứng dụng hệ thống tuần hoàn khép kín (RAS) trong nuôi cá chình bông tại Gia Lai bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế tích cực, mở ra hướng phát triển bền vững trong bối cảnh môi trường nuôi trồng nhiều biến động.
Tại xã Phù Mỹ Đông, tỉnh Gia Lai, mô hình nuôi cá chình bông bằng hệ thống tuần hoàn khép kín (RAS – Recirculating Aquaculture System) đang cho thấy hiệu quả rõ rệt, góp phần mở ra hướng đi mới cho người nuôi thủy sản địa phương.
Một trong những hộ tiên phong áp dụng mô hình này là ông Trương Thanh Hải, trú tại thôn 11, xã Phù Mỹ Đông. Với tinh thần dám nghĩ, dám làm, ông Hải đã mạnh dạn chuyển đổi từ phương thức nuôi truyền thống sang ứng dụng công nghệ RAS trong nuôi cá chình bông thương phẩm.
Trên diện tích khoảng 80 m², ông đầu tư xây dựng 3 bể nuôi, mỗi bể rộng 20 m², kết hợp hệ thống lọc cơ học, lọc sinh học và sục khí nhằm duy trì môi trường nước ổn định. Đây là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của mô hình nuôi cá theo công nghệ cao.
Mô hình nuôi cá chình bông bằng công nghệ RAS. Ảnh: TTKNQG
Theo nguyên lý hoạt động, hệ thống RAS vận hành theo chu trình khép kín, tái sử dụng nước có kiểm soát. Nước từ bể nuôi được dẫn qua hệ thống lọc cơ học để loại bỏ các chất thải rắn như phân và thức ăn dư thừa. Sau đó, nước tiếp tục đi qua bộ lọc sinh học, nơi các vi sinh vật có lợi chuyển hóa các hợp chất độc hại như ammonia thành dạng ít độc hơn. Cuối cùng, nước được bổ sung oxy, điều chỉnh các thông số kỹ thuật cần thiết trước khi quay trở lại bể nuôi.
Nhờ quy trình này, môi trường nước luôn được duy trì ổn định, giảm thiểu ô nhiễm và hạn chế mầm bệnh phát sinh. Đây là ưu điểm nổi bật so với phương thức nuôi truyền thống, vốn phụ thuộc nhiều vào nguồn nước tự nhiên.
Ông Hải chia sẻ, sau thời gian tìm tòi và học hỏi, năm 2020 ông quyết định chuyển đổi sang nuôi cá chình bông bằng công nghệ RAS. “So với trước đây, mô hình này giúp kiểm soát chất lượng nước tốt hơn, cá sinh trưởng nhanh, tỷ lệ hao hụt giảm rõ rệt, kích cỡ đồng đều hơn”, ông Hải cho hay.
Hiệu quả kinh tế từ mô hình bước đầu được ghi nhận tích cực. Với 600 con giống, kích cỡ trung bình khoảng 100 gram/con, sau gần 30 tháng nuôi, đàn cá đạt tỷ lệ sống khoảng 80%. Trọng lượng bình quân đạt khoảng 2 kg/con, cho sản lượng thu hoạch ước đạt 960 kg cá thương phẩm.
Với giá bán khoảng 500.000 đồng/kg, tổng doanh thu đạt khoảng 480 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí đầu tư và vận hành, gia đình ông Hải thu về lợi nhuận khoảng 200 triệu đồng mỗi vụ nuôi. Đây là mức thu nhập đáng kể so với nhiều mô hình nuôi thủy sản truyền thống trên cùng diện tích.
Cá chình bông là đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: TTKNQG
Theo đánh giá của các hộ nuôi, mô hình RAS dù đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu cao và yêu cầu trình độ kỹ thuật nhất định, song lại có nhiều lợi thế trong bối cảnh hiện nay. Việc kiểm soát chặt chẽ môi trường nuôi giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.
Đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, nguồn nước tự nhiên bị ô nhiễm hoặc khan hiếm, hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín được xem là giải pháp phù hợp, góp phần đảm bảo sản xuất ổn định và bền vững.
Từ thực tế mô hình tại xã Phù Mỹ Đông, có thể thấy tiềm năng nhân rộng nuôi cá chình bông bằng công nghệ RAS tại Gia Lai là rất lớn. Tuy nhiên, để phát triển mô hình này, người nuôi cần được hỗ trợ về nguồn vốn, đào tạo kỹ thuật và chuyển giao công nghệ bài bản.
Nếu được triển khai đồng bộ, mô hình nuôi cá chình bông ứng dụng công nghệ RAS không chỉ giúp nâng cao giá trị sản xuất mà còn góp phần phát triển ngành thủy sản địa phương theo hướng hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu, từng bước tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Bình Nguyên