(TSVN) – Mạnh dạn đầu tư gần 1,5 tỷ đồng để xây dựng hệ thống nuôi lươn khép kín, anh Trương Văn Trung (xã Văn Kiều, tỉnh Nghệ An) đã từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Mô hình không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn cho thấy tiềm năng phát triển của phương thức nuôi lươn không bùn theo hướng hiện đại.
Nếu trước đây, nuôi lươn thường gắn với những bể bạt chứa đầy bùn đất, thân cây bắp hay các vật liệu tự nhiên để tạo nơi trú ẩn thì nay, cách làm ấy đang dần được thay thế bằng quy trình nuôi hiện đại hơn. Việc loại bỏ lớp bùn dưới đáy bể không chỉ giúp người nuôi dễ quản lý môi trường mà còn tạo điều kiện kiểm soát dịch bệnh, tiết kiệm thức ăn và nâng cao tỷ lệ sống của lươn.
Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, phương thức nuôi lươn truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế khi nguồn giống chủ yếu khai thác tự nhiên, chất lượng không đồng đều, nước nhanh ô nhiễm, thức ăn dư thừa khó xử lý. Những yếu tố này khiến người nuôi thường xuyên đối mặt với dịch bệnh và năng suất bấp bênh. Chính vì vậy, xu hướng chuyển sang nuôi lươn không bùn kết hợp quản lý môi trường bằng kỹ thuật đang được nhiều địa phương lựa chọn như một hướng đi phù hợp với sản xuất quy mô hàng hóa.
Mô hình chủ động sản xuất lươn giống, đáp ứng nhu cầu của các hộ nuôi trong và ngoài địa phương.
Tại xã Văn Kiều, tỉnh Nghệ An, anh Trương Văn Trung là một trong những người tiên phong mạnh dạn đầu tư vào mô hình này. Sau thời gian tìm hiểu, tham quan nhiều cơ sở trong và ngoài tỉnh, năm 2024 anh quyết định vay gần 1,5 tỷ đồng để xây dựng hệ thống nuôi lươn khép kín. Trang trại được bố trí bài bản với 8 bể nuôi lươn bố mẹ sinh sản, 36 bể ương giống và 8 bể nuôi thương phẩm cùng hệ thống cấp, thoát nước.
Một trong những điểm sáng tạo và mang lại hiệu quả rõ rệt trong mô hình của anh Trung chính là cách anh xây dựng quy trình nuôi lươn khép kín. Thay vì mua giống bên ngoài, vừa tốn kém lại tiềm ẩn rủi ro về dịch bệnh và chất lượng, anh Trung quyết định tự sản xuất giống.
Điều kiện thuận lợi nhất của gia đình anh là nguồn nước ngầm tự chảy quanh năm, ổn định về chất lượng nên không phải xử lý bằng điện hay hóa chất trước khi đưa vào bể nuôi. Tận dụng lợi thế này, anh xây dựng quy trình cho lươn sinh sản theo hướng bán tự nhiên. Trong các bể nuôi lươn bố mẹ vẫn duy trì lớp bùn ở đáy, kết hợp xô, gạch và tấm xốp tạo hang, phía trên phủ bèo tây nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lươn sinh sản theo tập tính tự nhiên. Nhờ đó, tỷ lệ đẻ và tỷ lệ nở của trứng luôn ở mức cao.
Sau khi nở khoảng một đến hai tháng, lươn giống đạt kích cỡ có thể sử dụng thức ăn viên và sẵn sàng xuất bán. Mỗi năm, trang trại cung ứng từ 15 – 20 vạn con giống cỡ 500 con/kg với giá khoảng 34 triệu đồng mỗi vạn con. Trừ chi phí, nguồn thu từ sản xuất giống mang lại lợi nhuận khoảng 300 – 400 triệu đồng. Theo anh Trung, lươn giống được các hộ nuôi trong khu vực ưa chuộng bởi khỏe mạnh, thích nghi tốt với điều kiện địa phương, không phải mất thời gian thuần dưỡng như nhiều nguồn giống vận chuyển từ miền Nam.
Không chỉ chủ động con giống, hệ thống nuôi thương phẩm cũng mang lại hiệu quả ổn định với sản lượng khoảng 4,5 tấn lươn mỗi năm. Thành công của mô hình đến từ việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường thay vì phụ thuộc vào kinh nghiệm. Toàn bộ bể nuôi được ốp gạch men để thuận tiện vệ sinh, hạn chế tích tụ chất thải. Hệ thống thay nước tự động giúp duy trì chất lượng nước ổn định, trong khi máy sục khí vận hành từ 20 giờ tối đến 5 giờ sáng nhằm bảo đảm hàm lượng ôxy hòa tan.
Bên cạnh đó, anh cũng định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để cải thiện môi trường, hạn chế vi khuẩn gây bệnh. Thay cho bùn, các tấm lưới treo trong bể vừa tạo nơi trú ẩn cho lươn lại dễ tháo lắp, vệ sinh, góp phần giảm đáng kể nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Nhờ sự năng động, sáng tạo và dám đổi mới, mô hình của anh Trung nhanh chóng được chính quyền địa phương ghi nhận và khuyến khích nhân rộng. Nhiều hộ dân trong vùng đã bắt đầu học tập mô hình, từng bước hình thành nên một khu vực nuôi lươn tập trung, mở ra hướng đi mới cho phát triển nông nghiệp tại địa phương.
Lê Loan