(TSVN) – Tuy tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu hạ nhiệt trong ngắn hạn và cùng với đó là những biến số khó dự đoán, nhưng sau 8 tháng đầu năm giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành tôm ước đạt 3,29 tỷ USD, chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Với kết quả trên, nhiều khả năng, ngành tôm vẫn sẽ về đích đúng kế hoạch khi các tháng còn lại cũng chính là cao điểm chế biến, xuất khẩu trong năm.
Nhìn vào bức tranh tăng trưởng của ngành tôm sau 8 tháng không khó để nhận ra sự phân hóa mạnh giữa các thị trường. Trong khi hai thị trường truyền thống lớn là Mỹ và EU đều sụt giảm thì nhóm thị trường châu Á lại cho thấy có sự tăng trưởng ổn định và khá mạnh. Sự phân hóa trên theo các doanh nghiệp chủ yếu đến từ sự tác động về mặt chính sách thương mại và sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu tôm lớn trên thế giới.
Đơn cử như thị trường Mỹ, bên cạnh mức thuế bổ sung 12,5% theo Điều 301, con tôm Việt Nam còn gặp khó khăn về thuế khác là phán quyết sơ bộ về thuế chống bán phá giá (AD) khá cao. Dù phải còn chờ đến phán quyết cuối cùng, nhưng thuế AD cũng đã tác động đáng kể đến tâm lý thận trọng của cả nhà nhập khẩu Mỹ lẫn doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong việc ký kết các đơn hàng mới. Riêng thuế bổ sung theo Điều 301 áp cho con tôm Việt Nam được đánh giá là cao hơn các đối thủ cạnh tranh trực tiếp cũng khiến giá tôm Việt Nam kém cạnh tranh. Còn tại thị trường EU, tuy mức giảm 2,7% sau 8 tháng được xem là nhẹ hơn rất nhiều so với thị trường Mỹ, nhưng cũng cho thấy áp lực cạnh tranh giá từ Ecuador, Ấn Độ cùng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chi phí logistics đang ngày càng khắt khe.
Trái với Mỹ và EU, thị trường nhóm các nước châu Á lại cho thấy có sự tăng trưởng ổn định, cá biệt một số nước tăng trưởng khá mạnh. Các con số báo cáo từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) một lần nữa khẳng định, thị trường Trung Quốc – Hồng Kông tiếp tục giữ vai trò động lực chính của toàn ngành khi tổng kim ngạch xuất khẩu tôm sang 2 thị trường này sau 8 tháng đạt 1,13 tỷ USD, tăng tới 37,6%. Riêng Nhật Bản và Hàn Quốc đều có sự tăng trưởng ổn định với mức tăng lần lượt là 10% và 16%, trở thành thị trường “an toàn” cho con tôm Việt Nam trong bối cảnh thị trường tôm thế giới nhiều biến động. Điều này cũng cho thấy chiến lược đa dạng hóa thị trường, dịch chuyển trọng tâm sang châu Á đang phát huy hiệu quả rõ rệt trong bối cảnh Mỹ siết chặt chính sách thuế quan.
Đây cũng là nhận định của hầu hết doanh nghiệp ngành tôm cho giai đoạn tăng tốc cuối năm và một trong số đó chính là biến số từ phán quyết cuối cùng của đợt rà soát thuế chống bán phá giá (dự kiến công bố vào tháng 11/2026). Nếu mức thuế cuối cùng vẫn duy trì ở mức cao, dòng hàng xuất khẩu nhiều khả năng sẽ tiếp tục chuyển hướng mạnh hơn sang châu Á, làm gia tăng nguồn cung tại các thị trường này và tạo thêm áp lực giảm giá bán, ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Còn tại EU, tiềm ẩn rủi ro cạnh tranh giá gay gắt và các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe hơn. Ngoài ra, rủi ro về tỷ giá, chi phí logistics và biến động giá tôm nguyên liệu trong nước cũng là những yếu tố mà doanh nghiệp luôn dành sự quan tâm đặc biệt.
Liên quan đến thuế chống bán phá giá, theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (một trong 2 bị đơn bắt buộc trong kỳ POR20 này) vẫn có cơ sở để kỳ vọng về một kết quả cuối cùng sẽ tích cực hơn so với kết quả sơ bộ. Ông Lực chia sẻ thận trọng: “Sao Ta sẽ tiếp tục phối hợp đầy đủ, minh bạch với DOC và bảo vệ tốt nhất quyền lợi chính đáng của mình. Chúng tôi chuẩn bị cho cả kịch bản thuận lợi và kịch bản thận trọng, không để hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào một kết quả thuế duy nhất. Tuy nhiên, đây là quá trình thuộc thẩm quyền của Bộ Thương mại Hoa Kỳ nên Sao Ta không muốn đưa ra dự báo cụ thể về mức thuế cuối cùng”.
Một rủi ro khác cũng được nhận diện chính là ngành tôm Việt Nam đang trong giai đoạn “lệch trục thị trường” khi chuyển dịch từ sự phụ thuộc vào Mỹ và EU sang dựa nhiều hơn vào Trung Quốc và khu vực châu Á. Theo ông Lực, việc doanh nghiệp chuyển hướng sang thị trường châu Á là một hướng đi quan trọng trong bối cảnh thị trường Mỹ và EU có nhiều biến động. Nhưng khi nhiều doanh nghiệp cùng chuyển hướng, cạnh tranh chắc chắn sẽ tăng và gây áp lực lên giá bán, đặc biệt với sản phẩm phổ thông.
“Vì vậy, theo chúng tôi, chuyển thị trường thôi là chưa đủ. Doanh nghiệp phải đồng thời chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, sản phẩm chế biến sâu, sự ổn định của nguồn cung và uy tín thương hiệu. Đối với Sao Ta, chúng tôi ưu tiên phát triển những phân khúc mà khách hàng đánh giá cao về chất lượng và giá trị gia tăng, thay vì chạy theo sản lượng bằng mọi giá”, ông Lực cho biết thêm.
Khi được hỏi về khả năng hoàn thành kế hoạch năm 2026, tuy có đôi chút thận trọng, nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều có chung nhận định: “Năm 2026 là một năm có nhiều yếu tố khó dự báo, đặc biệt là chính sách thương mại tại thị trường Mỹ. Tuy nhiên, ngành tôm vẫn tăng trưởng và sẽ hoàn thành kế hoạch”. Cơ sở chính cho nhận định trên chủ yếu đến từ kết quả xuất khẩu 6 tháng đầu năm cùng sự chủ động tăng tốc cho giai đoạn cao điểm cuối năm.
Riêng Sao Ta, theo chia sẻ từ ông Hồ Quốc Lực, vẫn duy trì sản xuất, vùng nuôi và thị trường khá ổn định nên sau 6 tháng, lợi nhuận đã đạt khoảng một nửa kế hoạch năm. Ông Lực nhận định: “Vì đặc thù quý III và quý IV thường là giai đoạn kinh doanh tốt hơn, chúng tôi vẫn có cơ sở để phấn đấu hoàn thành kế hoạch lợi nhuận. Doanh thu có thể chịu nhiều biến động hơn, nhưng chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hiệu quả và chất lượng lợi nhuận, chứ không chạy theo doanh thu bằng mọi giá”.
Theo quy luật thị trường, những tháng cuối năm (từ tháng 9 đến tháng 12), nhu cầu tiêu thụ tôm tại hầu hết các thị trường đều tăng mạnh do đây là khoảng thời gian có nhiều lễ hội, như: Noel, Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán… nên ngay từ cuối quý III, các doanh nghiệp đều bước vào cao điểm thu mua, chế biến, xuất khẩu.
“Đặc thù của ngành tôm là trong 2 quý cuối năm thường là khoảng thời gian kinh doanh tốt nhất do nhu cầu thị trường tăng mua nhằm phục vụ các lỳ lễ, tết… Thậm chí, đây còn được xem là giai đoạn mang tính quyết định đến kết quả sản xuất cả năm của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp đều có sự chuẩn bị từ sớm cả về hợp đồng lẫn nguyên liệu, con người… cho giai đoạn này”, ông Lực phân tích.
Bước vào mùa cao điểm chế biến, xuất khẩu nhu cầu về tôm nguyên liệu thường tăng cao, kéo theo sự cạnh tranh, đẩy giá tôm trong nước tăng cao. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp hầu hết đều có sự chuẩn bị nguồn tôm nguyên liệu từ khá sớm theo kiểu: “Có xuất, có nhập” để đảm bảo đủ lượng tôm đạt chất lượng cho giai đoạn cao điểm này, nên giá cả vì thế cũng ít có sự biến động mạnh và kéo dài. Riêng năm nay, do giá tôm giảm mạnh và kéo dài ảnh hưởng đến tâm lý người nuôi làm giảm diện tích thả nuôi, nguy cơ nguồn cung tôm thẻ giảm vào cuối năm. Tuy nhiên, theo nhận định của doanh nghiệp, thiếu hụt nguyên liệu nếu có cũng chỉ xảy ra ở cuối năm. Lúc đó, nhu cầu đã không còn cao, nên cũng ít tác động hơn đối với doanh nghiệp. “Riêng Sao Ta có lợi thế nhất định nhờ vùng nuôi của doanh nghiệp và hệ thống liên kết nguyên liệu. Chúng tôi đang chủ động theo dõi sát tình hình nuôi và thu hoạch để cân đối nguyên liệu cho chế biến”, ông Lực tự tin chia sẻ.
Xuân Trường