(TSVN) – Từ quyết định chuyển đổi sang nuôi tôm công nghệ cao, ông Đặng Văn Bảy (xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long) đã xây dựng thành công trang trại quy mô hơn 40 ha, mang lại lợi nhuận hàng chục tỷ đồng mỗi năm.
Nhiều năm trước, kinh tế gia đình ông Đặng Văn Bảy chủ yếu dựa vào nghề nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức bán thâm canh trong ao đất. Khi kỹ thuật phát triển hơn, ông tiếp tục đầu tư ao lót bạt để nuôi thâm canh với kỳ vọng nâng cao năng suất.
Tuy nhiên, những biến động của thị trường cùng dịch bệnh diễn biến phức tạp khiến nhiều vụ nuôi liên tiếp thất bại. Chi phí đầu tư ngày càng lớn trong khi hiệu quả không như mong muốn đã đặt gia đình ông trước áp lực phải tìm một hướng đi mới.
Thay vì chấp nhận rủi ro kéo dài, ông Bảy dành thời gian đến nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm để tham quan, học hỏi kinh nghiệm. Song song đó, ông tích cực tham gia các lớp tập huấn, cập nhật tiến bộ kỹ thuật và trao đổi với các chuyên gia nhằm tìm ra mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất của mình.
Sau quá trình tìm hiểu, ông quyết định chuyển đổi sang quy trình nuôi tôm nhiều giai đoạn ứng dụng công nghệ cao, dù biết đây là lựa chọn đòi hỏi vốn đầu tư lớn và yêu cầu kỹ thuật khắt khe hơn.
Tôm thương phẩm từ mô hình nuôi công nghệ cao của ông Đặng Văn Bảy. Ảnh: Báo Dân việt
Điểm khác biệt của mô hình nằm ở cách tổ chức toàn bộ khu nuôi theo hướng khép kín. Trên mỗi hecta, diện tích dành cho ao nuôi trực tiếp chỉ khoảng 1.500 m², phần còn lại được bố trí làm ao lắng, ao xử lý, ao ương và ao chứa nước. Nguồn nước được xử lý qua nhiều công đoạn trước khi cấp vào ao nuôi, giúp ổn định chất lượng nước và giảm nguy cơ phát tán mầm bệnh.
Bên cạnh đó, hệ thống sục khí được vận hành liên tục nhằm duy trì hàm lượng ôxy hòa tan ổn định. Các chỉ tiêu quan trọng như pH, độ mặn, mật độ tảo hay chất lượng nước đều được theo dõi hằng ngày thông qua cảm biến kết hợp dữ liệu kỹ thuật. Việc quản lý dựa trên số liệu thay vì kinh nghiệm giúp người nuôi phát hiện sớm những biến động của môi trường, từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời, giảm đáng kể nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Theo ông Bảy, hiệu quả của mô hình không đến từ một yếu tố riêng lẻ mà là kết quả của việc kiểm soát đồng bộ toàn bộ quy trình sản xuất. Từ lựa chọn con giống, quản lý nguồn nước, sử dụng thức ăn đến theo dõi sức khỏe tôm đều được thực hiện theo quy trình thống nhất. Nhờ vậy, tỷ lệ sống của tôm được cải thiện, tốc độ tăng trưởng ổn định và chất lượng tôm thương phẩm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.
Sau những vụ nuôi đầu tiên đạt kết quả khả quan, ông tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô. Nếu trước đây chỉ sở hữu vài hecta ao nuôi, mỗi năm ông đều phát triển thêm từ 1 – 2 ha. Đến nay, diện tích sản xuất của gia đình đã vượt 40 ha, trở thành một trong những mô hình nuôi tôm công nghệ cao tiêu biểu tại địa phương.
Hiệu quả kinh tế cũng thay đổi rõ rệt. Theo chia sẻ của ông, lợi nhuận từ mô hình công nghệ cao cao gấp 5 – 6 lần so với phương thức truyền thống trước đây. Riêng năm 2025, trang trại đạt sản lượng hơn 800 tấn tôm thương phẩm, mang về lợi nhuận trên 20 tỷ đồng.
Nguyễn Hằng