(TSVN) – Từ phương thức nuôi truyền thống, ông Cao Văn Ba (xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình) đã mạnh dạn chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao theo tiêu chuẩn VietGAP. Mô hình mang lại năng suất cao, doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm.
Xuất thân trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ông Cao Văn Ba luôn trăn trở tìm hướng phát triển kinh tế trên chính mảnh đất quê hương. Sau khi cải tạo vùng đất hoang hóa thành ao nuôi, ông lần lượt thử sức với cá rô, cá chép nhưng hiệu quả không như mong muốn. Tìm kiếm đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao hơn, ông chuyển sang nuôi tôm sú và ngay vụ đầu tiên đã thu được kết quả khả quan.
Mô hình giúp kiểm soát tốt các yếu tố môi trường, hạn chế tác động của thời tiết
Tuy nhiên, thành công ban đầu không kéo dài. Sau vài vụ nuôi, ao tôm liên tục xuất hiện các bệnh như đen mang, mềm vỏ khiến sản lượng sụt giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, những vụ nuôi sau không còn thuận lợi như kỳ vọng. Tôm thường xuyên mắc các bệnh như đen mang, mềm vỏ, làm năng suất và hiệu quả kinh tế giảm sút. Qua nhiều lần tìm hiểu, ông nhận thấy yếu tố môi trường nước và phương thức quản lý ao nuôi là hai yếu tố quyết định. Nếu không kiểm soát tốt chất lượng nước, dịch bệnh rất dễ bùng phát.
Từ thực tế đó, ông Ba đã dành nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu, tham quan các vùng nuôi tôm trong và ngoài tỉnh để học hỏi kỹ thuật. Theo đó, ông nhận thấy tôm thẻ chân trắng có nhiều ưu điểm như tốc độ sinh trưởng nhanh, phù hợp với hình thức nuôi thâm canh và dễ áp dụng các quy trình quản lý hiện đại. Đây cũng là thời điểm ông quyết định thay đổi toàn bộ định hướng sản xuất, chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và đầu tư theo hướng công nghệ cao thay vì tiếp tục phương thức truyền thống.
Để hiện thực hóa mục tiêu nuôi tôm bền vững, ông Ba mạnh dạn vay vốn, từng bước xây dựng hệ thống nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP. Đến nay, trang trại có quy mô hơn 5 ha với hệ thống ao nổi lót bạt, mái che điều tiết nhiệt độ, ao lắng, ao xử lý nước và khu vực nuôi được bố trí khép kín. Mô hình giúp kiểm soát tốt các yếu tố môi trường, hạn chế tác động của thời tiết và đặc biệt có thể nuôi tôm trái vụ trong điều kiện mùa đông miền Bắc.
Theo ông Ba, nuôi tôm công nghệ cao không chỉ là đầu tư cơ sở hạ tầng mà còn phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Trước mỗi vụ nuôi, ao được tháo cạn, vệ sinh sạch sẽ, phơi đáy từ 10 – 15 ngày, sau đó xử lý bằng vôi và cấp nước qua hệ thống lọc trước khi thả giống. Trong suốt quá trình nuôi, các chỉ tiêu như pH, độ kiềm, ôxy hòa tan, nhiệt độ và chất lượng nước được theo dõi thường xuyên để kịp thời điều chỉnh, hạn chế phát sinh dịch bệnh.
Việc đầu tư đồng bộ đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Bình quân mỗi ha nuôi đạt năng suất khoảng 40 – 50 tấn tôm thương phẩm, cao gấp khoảng ba lần so với phương thức nuôi truyền thống. Dù chi phí đầu tư ban đầu lên tới hơn 1 tỷ đồng/ha, mô hình vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ tôm có tỷ lệ sống cao, năng suất ổn định và có thể sản xuất nhiều vụ trong năm.
Hiện nay, mỗi năm trang trại của ông Ba cung ứng ra thị trường từ 100 – 150 tấn tôm thương phẩm, mang lại doanh thu hàng tỷ đồng và tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10 lao động địa phương.
Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, ông còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm kỹ thuật cho các hộ nuôi trong vùng với vai trò Chủ nhiệm Hợp tác xã Nuôi trồng thủy hải sản xã Giao Ninh. Mô hình của ông được xem là minh chứng cho hiệu quả của việc chuyển đổi từ nuôi truyền thống sang nuôi ứng dụng công nghệ cao, góp phần nâng cao giá trị và tính bền vững của nghề nuôi tôm.
Mô hình được đầu tư theo hướng khép kín, trong đó khoảng 80% diện tích dành cho ao nuôi với thành bê tông, đáy lót bạt và mái che để kiểm soát các yếu tố môi trường. Phần diện tích còn lại là hệ thống ao lắng, ao xử lý nước cấp và nước thải, góp phần bảo đảm chất lượng nguồn nước trước khi đưa vào sản xuất và xả ra môi trường.
Nguyễn Hằng