(TSVN) – Khác với khí độc hay vi khuẩn, kim loại nặng không bị phân hủy sinh học mà tích lũy dần trong môi trường và cơ thể tôm, gây tổn thương gan tụy, rối loạn lột xác, giảm tăng trưởng và tăng nguy cơ bùng phát bệnh.
(TSVN) – Quan sát khả năng bắt mồi, hoạt động bơi lội, đường ruột hay màu sắc cơ thể là những cách đơn giản giúp người nuôi đánh giá sức khỏe tôm, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường để xử lý kịp thời.
(TSVN) – Nuôi cá mú lồng bè mang lại giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật nghiêm ngặt để tránh dịch bệnh. Bài viết hướng dẫn chi tiết quy trình kỹ thuật nuôi cá mú lồng bè từ chọn giống đến chăm sóc, giúp tối ưu chi phí và đạt năng suất cao.
(TSVN) – Gia cố hệ thống lồng bè, theo dõi diễn biến thời tiết, kiểm soát chất lượng nước và điều chỉnh chế độ chăm sóc là những giải pháp quan trọng giúp người nuôi giảm thiểu tác động của mùa mưa bão, bảo vệ thủy sản và nâng cao hiệu quả.
(TSVN) – Trong nuôi trồng thủy sản, thức ăn chiếm 50 – 70% chi phí sản xuất. Do đó, giảm FCR (hệ số chuyển đổi thức ăn) là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành và hướng tới nuôi bền vững.
(TSVN) – Trong xu hướng nuôi trồng thủy sản an toàn và bền vững, chế phẩm sinh học ngày càng được sử dụng rộng rãi để cải thiện môi trường ao nuôi, hạn chế dịch bệnh và giảm phụ thuộc vào hóa chất, kháng sinh. Việc áp dụng đúng cách giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng yêu cầu chất lượng thị trường.
(TSVN) – Giảm ăn là một trong những biểu hiện bất thường phổ biến trên tôm nuôi. Dấu hiệu này có thể xuất hiện trước khi các vấn đề về sức khỏe hoặc môi trường bộc lộ rõ ràng.
(TSVN) – Mùa nóng làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh trên cá rô phi. Kiểm soát môi trường và quản lý sức khỏe đàn cá là yếu tố quyết định hiệu quả vụ nuôi.
(TSVN) – Bệnh đục thủy tinh gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tỷ lệ sống của tôm. Chủ động áp dụng các biện pháp quản lý môi trường, dinh dưỡng và phòng bệnh tổng hợp là giải pháp quan trọng giúp hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả nuôi tôm.
(TSVN) – Hoạt động phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ phải được triển khai theo nguyên tắc “phòng bệnh là chính”, tăng cường tính chủ động trong giám sát mầm bệnh và an toàn sinh học.