Thủy sản chủ động “né” hạn mặn

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Theo dự báo, xu thế xâm nhập mặn vùng ĐBSCL trong mùa khô năm 2022 mặc dù không nghiêm trọng như năm trước nhưng sẽ ở mức cao hơn trung bình nhiều năm. Để đảm bảo an toàn cho thủy sản nuôi, ngành thủy sản đã đưa ra những khuyến cáo cụ thể.

Nguy cơ xâm nhập mặn

Theo nhận định ban đầu của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, các đợt xâm nhập mặn cao nhất ở cửa sông Cửu Long có khả năng sẽ tập trung vào tháng tháng 2 và tháng 3 (từ ngày 26/2 – 5/3, 14 – 19/3); các sông Vàm Cỏ, Cái Lớn vào tháng 3, 4 (từ ngày 14 – 19/3, 28/3 – 3/4 và 12 – 17/4).

Sang tháng 3, ranh mặn sẽ tiếp tục vào sâu thêm từ 10 – 20 km, lên tới 57 – 110 km ở trên các nhánh sông. Dù xâm nhập mặn năm nay không gay gắt như mùa khô các năm 2015 – 2016 và 2019 – 2020 nhưng vẫn có thể cao hơn trung bình nhiều năm. Để hạn chế thiệt hại, khuyến cáo các địa phương ở Nam Bộ cần cập nhật kịp thời các thông tin dự báo khí tượng thủy văn và có các biện pháp chủ động phòng chống xâm nhập mặn.

Để ứng phó kịp thời với hạn hán, xâm nhập mặn gây ra nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với sản xuất NTTS trong mùa khô năm 2022, Tổng cục Thủy sản đã có công văn đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL: Xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức triển khai các biện pháp phòng, chống hạn hán, mặn xâm nhập mặn theo Chỉ thị số 8712/CT-BNN-TCTL ngày 22/12/2021 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, chú ý lồng ghép các nhiệm vụ về phát triển NTTS bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn đã được phê duyệt tại Quyết định 3550/QĐ-BNN-TCTS ngày 12/8/2021.

Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Sóc Trăng

Cùng đó, chủ động theo dõi thời tiết, thủy văn; cập nhật thông tin diễn biến mực nước, mức độ hạn và xâm nhập mặn; tăng cường quan trắc môi trường để kịp thời phổ biến, tuyên truyền đến người dân biết, chủ động có kế hoạch sản xuất phù hợp; Nạo vét kênh, mương, khơi thông dòng chảy các công trình thủy lợi tăng khả năng chủ động lấy nước, trữ nước, tiêu thoát nước, khoanh vùng khả năng thiếu nước, chuẩn bị vật tư, nhiên liệu bơm, trữ nước ngọt bổ sung cho hoạt động NTTS. Nâng cấp hệ thống cống điều tiết nước và có chế độ điều tiết nước chủ động ở các vùng NTTS tập trung đặc biệt là vùng nuôi thủy sản kết hợp với trồng lúa, hạn chế tối đa nhiễm mặn cục bộ.

Đồng thời, tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ vùng NTTS; bám sát dự báo xâm nhập mặn, điều chỉnh mùa vụ thả giống và mật độ nuôi cho từng đối tượng phù hợp với điều kiện, tình hình thời tiết cụ thể tại địa phương, khuyến cáo người dân không nên nuôi thủy sản tại những nơi không đảm bảo điều kiện sản xuất; Áp dụng khoa học kỹ thuật, mô hình nuôi ít thay nước phù hợp; chăm sóc và quản lý chặt chẽ môi trường nuôi, đặc biệt là quản lý thức ăn, tăng cường sử dụng vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên, giảm chi phí sản xuất nhằm ứng phó, hạn chế thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn gây ra. Đối với những vùng không có điều kiện thuận lợi thì hạn chế thả giống hoặc thả giống chậm đón mùa mưa.

Chú trọng riêng từng đối tượng

Trong văn bản gửi các địa phương, Tổng cục Thủy sản cũng đặc biệt chú trọng hướng dẫn một số giải pháp kỹ thuật ứng phó với tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương để phổ biến và hướng dẫn người nuôi áp dụng.

Đối với nuôi tôm nước lợ

Cần tăng cường công tác quan trắc môi trường, cập nhật thông tin để có giải pháp và kế hoạch sản xuất phù hợp; Có giải pháp tích trữ nước phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; Gia cố bờ, cống để tránh hiện tượng rò rỉ, thẩm lậu, có ao lắng đúng quy cách, thực hiện biện pháp an toàn sinh học trước khi thả tôm và trong quá trình nuôi bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước để đảm bảo sức khỏe tôm nuôi và giữ môi trường bền vững, hạn chế mất nước và thay nước khi môi trường nuôi ổn định;

Hướng dẫn người nuôi lựa chọn giống tôm có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch và có chất lượng tốt; thực hiện ương (gièo) giống trước khi thả nuôi thương phẩm; chỉ thả giống khi nhiệt độ nước dưới 30oC (sáng sớm hoặc chiều mát); thả nuôi với mật độ hợp lý tùy theo các hình thức nuôi; Đối với ao nuôi thâm canh, bán thâm canh: duy trì mực nước trong ao tối thiểu 1,3 – 1,5 m, nếu cần cấp bổ sung nước thì phải lấy nước từ ao lắng, xử lý trước khi cấp vào ao nuôi. Đồng thời chạy quạt nước để tránh hiện tượng phân tầng nhiệt độ, tăng cường ôxy và không để thiếu ôxy cục bộ. Duy trì các yếu tố môi trường hợp lý (độ mặn 10 – 25 ‰; O2: >3 mg/l; pH: 7,5 – 8,5; độ kiềm: 80 – 150 mg/l…).

Cung cấp lượng thức ăn hợp lý theo kích cỡ và mật độ, giảm 15 – 30% lượng thức ăn trong những ngày nắng nóng; định kỳ 15 ngày/lần bổ sung vitamin C, các khoáng vi lượng, men tiêu hóa trộn vào thức ăn cho tôm, thời gian mỗi đợt từ 5 – 7 ngày để tăng sức đề kháng, giúp tôm lột xác đồng loạt và nhanh cứng vỏ, từ 10 – 15 ngày/lần sử dụng các loại chế phẩm để xử lý nước và đáy ao nuôi, lượng dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Đối với nuôi nghêu/ngao trong bãi triều

Tăng cường công tác quan trắc môi trường, cập nhật thông tin để có giải pháp và kế hoạch sản xuất phù hợp; Chỉ thả nuôi trong vùng có điều kiện môi trường thích hợp cho sinh trưởng và phát triển như: gần cửa sông (bổ sung dinh dưỡng), bằng phẳng, độ dốc thấp và ít sóng gió; thời gian phơi bãi không quá 4 – 5 giờ/ngày; độ mặn thích hợp từ 15 – 25‰… Khuyến cáo người dân không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi từ tháng 1 – 3 âm lịch, Mật độ thả từ 180 – 200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400 – 600 con/kg;

Cùng đó, theo dõi tình hình biến động của thời tiết và môi trường nước (nhiệt độ, độ mặn…) từng vùng, từng khu vực nhằm sớm phát hiện các biến động bất thường để có giải pháp phù hợp; Có biện pháp khai thông các vùng đọng nước để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ, gây nhiệt độ tăng cao vào buổi trưa làm nghêu/ngao chết. Nếu phát hiện nghêu/ngao chết trên bãi, lập tức thu gom để tránh ảnh hưởng sang các cá thể còn sống.

Đối với nuôi thủy sản nước ngọt

Tăng cường công tác quan trắc môi trường, cập nhật thông tin để có giải pháp và kế hoạch sản xuất phù hợp; Chủ động lấy nước ngọt vào ao chứa để dự trữ đồng thời giám sát, chỉ đạo và hướng dẫn người nuôi có kế hoạch thả giống phù hợp, không nên thả giống vào thời điểm khô hạn và bị xâm nhập mặn; Theo dõi, quản lý môi trường ao nuôi chặt chẽ, đặc biệt là quản lý thức ăn, trong khẩu phần ăn cần bổ sung thêm các vitamin, khoáng chất… để tăng sức đề kháng; tăng cường sử dụng chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên;

Riêng đối với cá tra, cá lăng nha, khi độ mặn có khả năng tăng cao > 8‰ và kéo dài 5 – 7 ngày thì hạn chế cho ăn, có kế hoạch tiến hành di dời cá nuôi đến vùng nuôi an toàn. 

Ngoài ra, người nuôi cần chủ động thu hoạch thủy sản nuôi đạt kích thước thương phẩm ngay khi thiếu nước, hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra.

PV

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!