Thủy sản, kiểm ngư và bài toán con giống, dữ liệu, công nghệ

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Trong khuôn khổ Hội nghị “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực phía Nam” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an tổ chức tại TP Cần Thơ vào sáng ngày 2/11, phiên chuyên đề thủy sản và kiểm ngư diễn ra trong buổi chiều cùng ngày xoay quanh ba ngành hàng chủ lực là tôm nước lợ, cá tra và nuôi biển. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng chủ trì phiên chuyên đề này, cùng sự tham dự của Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân.

Các tham luận tại phiên chuyên đề này đến từ các cơ quan quản lý, Viên nghiên cứu, hiệp hội, doanh nghiệp và địa phương đều chỉ rõ: dư địa của 3 ngành hàng chủ lực trên còn rất lớn nhưng dư địa ấy không đến từ diện tích mà chính các khâu: con giống, thức ăn, dữ liệu truy xuất và cơ chế đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất mới là những yếu tố quyết định khai mở dư địa của 3 ngành hàng trên. 

Nhận diện điểm nghẽn chung

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, con giống phục vụ ngành tôm nước lợ đang phụ thuộc đáng kể từ nước ngoài, với khoảng 80% tôm thẻ chân trắng bố mẹ là nhập khẩu, còn tôm sú hiện khoảng 40% tôm sú bố mẹ vẫn khai thác từ tự nhiên. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất lượng giống lưu hành trên thị trường còn hết sức khó khăn khi giống không rõ nguồn gốc hoặc chưa kiểm dịch vẫn còn lưu thông, trong khi lực lượng thanh tra chuyên ngành ở địa phương còn thiếu. Chi phí cũng là áp lực lớn đối với ngành tôm nước lợ. Cục cho biết giá thức ăn hỗn hợp có thể tăng 7–10% do biến động nguyên liệu và logistics, kéo giá thành nuôi tôm tăng 5–10%. Nhu cầu bột cá cho sản xuất thức ăn tôm khoảng 140.000 tấn mỗi năm và trong số này có khoảng ½ là phải nhập. Ngoài ra, còn là vấn đề dịch bệnh, môi trường ô nhiễm, truy xuất nguồn gốc… Báo cáo của Cục cho biết mới có 24,5% số cơ sở nuôi tôm nước lợ thuộc diện phải đăng ký được cấp mã số.

Đối với cá tra, con giống cũng được xem là mắc xích then chốt, nhưng vẫn còn khoảng cách nhất định giữa nghiên cứu và thực tế. Theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, do cận huyết nhiều thế hệ ở các cơ sở nhân giống địa phương, tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống chỉ khoảng 10–15%, làm kéo dài chu kỳ nuôi và đẩy hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) lên cao. Còn theo báo cáo kết quả của Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho thấy quy trình ương ao đất quy mô sản xuất đạt 21–28%, còn hệ thống tuần hoàn (RAS) đạt 42,6–59,8% sau 30 ngày. Riêng khâu nuôi thương phẩm, RAS, theo số liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, ở quy mô thử nghiệm đạt FCR khoảng 1,40, so với mức trung bình toàn ngành 1,55–1,75 

Phiên chuyên đề Thủy sản và Kiểm ngư thu hút đông đảo đại biểu tham dự và thảo luận

Nuôi biển được xem là dư địa mới, nhưng các báo cáo cho thấy hiện vẫn đang vướng ở khâu giống, lồng xa bờ và giao khu vực biển. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, phần lớn hoạt động nuôi biển hiện vẫn chủ yếu tập trung ven bờ với quy mô nhỏ lẻ; giống tôm hùm chủ yếu nhập khẩu; việc dùng cá tạp và thức ăn tươi sống còn phổ biến; công nghệ thiết kế, chế tạo và vận hành lồng nuôi ở vùng biển hở, xa bờ chưa được làm chủ đồng bộ; cảng, bến, điện, bảo quản và vận chuyển còn thiếu.

Đối với lĩnh vực kiểm ngư và truy xuất nguồn gốc, các tham luận đều có tính đồng thuận cao về nhận định: dữ liệu tàu cá là nền tảng. Về dữ liệu nghề cá, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết đến 26/10/2026 cơ sở dữ liệu Vnfishbase đã cập nhật 79.932 bản ghi đăng ký tàu cá, 40.930 tàu được đăng kiểm và 79.570 tàu được cấp phép khai thác. Cơ sở dữ liệu nuôi trồng thủy sản có 21.970 cơ sở nuôi, trong đó 19.432 cơ sở đã được cập nhật thông tin xác nhận lồng bè và đối tượng nuôi chủ lực. Cục cũng đang hoàn thiện truy xuất nguồn gốc cho khai thác thủy sản và chuỗi cá tra, đồng thời triển khai nhiệm vụ lớn về nền tảng số và trợ lý ảo phục vụ quản lý nghề cá bền vững, truy xuất điện tử (Quyết định 3410/QĐ-BNNMT).

Tháo điểm nghẽn, khơi thông dư địa

Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ, cho biết thành phố đã số hóa bản đồ 348 cơ sở nuôi cá tra trong năm 2026, dự kiến mở rộng cho hơn 38.000 cơ sở nuôi tôm nước lợ vào năm 2027, đồng thời số hóa kết quả 38 điểm quan trắc chất lượng nước. Cần Thơ kiến nghị Bộ ban hành tiêu chuẩn quốc gia về dữ liệu số thủy sản, thừa nhận giá trị pháp lý của nhật ký ao nuôi điện tử và mã QR truy xuất, đồng thời triển khai chương trình nghiên cứu phân lập dòng gen kháng bệnh trên tôm thẻ. 

Phía nghiên cứu, theo Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, tôm sú được chọn lọc liên tục đến thế hệ G7 với hiệu quả chọn lọc tăng trưởng khoảng 10,7%; tôm thẻ chân trắng duy trì chọn lọc đến G9, đạt 6–9,6% mỗi thế hệ. Đối với cá tra, Viện cho biết chương trình chọn giống tăng trưởng nhanh đã tạo thế hệ G5, hiệu quả chọn lọc thực tế 34,6% so với đàn chưa chọn lọc; chương trình kháng bệnh gan thận mủ đã đến thế hệ G2. Viện đề xuất chuyển sang chọn lọc đa tính trạng kết hợp tăng trưởng, tỷ lệ sống và kháng bệnh, dựa trên chọn giống hệ gen. Hướng này trùng với nhiệm vụ chiến lược “Nghiên cứu chọn giống hệ gen nâng cao tăng trưởng và kháng bệnh trên cá tra” mà Bộ trưởng đã phê duyệt tại Quyết định 3674/QĐ-BNNMT ngày 23/9/2026.

TS. Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư phát biểu tại phiên chuyên đề

Hiệp hội Cá tra đề xuất bốn “bài toán” công nghệ cần giải trước năm 2030: chọn giống phân tử với mục tiêu nâng tỷ lệ sống từ cá bột lên giống tối thiểu 30%; nuôi tuần hoàn quy mô công nghiệp kèm vắc-xin thế hệ mới, đưa FCR xuống dưới 1,4 và loại bỏ kháng sinh hóa học; chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm; và nền tảng dữ liệu số trên blockchain, GIS, viễn thám để cấp định danh số cho 100% ao nuôi của doanh nghiệp và hộ liên kết. Về phụ phẩm, Hiệp hội cho rằng phần đầu, xương, da, mỡ chiếm 60–65% khối lượng cá, tương đương gần 1 triệu tấn mỗi năm; khai thác collagen, dầu cá giàu omega và protein thủy phân có thể nâng giá trị thương mại trên mỗi đơn vị nguyên liệu từ 35% lên 50%. Hiệp hội cũng kiến nghị tín dụng xanh dài hạn 10–15 năm và lập Quỹ Đổi mới sáng tạo chuỗi giá trị cá tra theo hình thức hợp tác công tư.

Từ thực tiễn nuôi biển tại địa phương, đại diện tỉnh An Giang cho rằng, nuôi biển đang phát huy hiệu quả tích cực nhưng vẫn còn vướng mắc về thể chế. Theo khoản 10 Điều 24 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, dự án đề nghị giao khu vực biển thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, nhưng hình thức lựa chọn nhà đầu tư chưa được hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, theo Nghị định 44/2026/NĐ-CP, hồ sơ giao khu vực biển phải lấy ý kiến lại các bộ, ngành dù tọa độ, quy mô và mục đích không đổi. Tỉnh đề nghị Bộ sớm ban hành chính sách thủy sản thay Nghị định 67/2014/NĐ-CP, có chính sách miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển giai đoạn đầu, hỗ trợ xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật lồng HDPE cho vùng biển Tây Nam và ưu tiên điều tra sức tải môi trường, quan trắc cảnh báo sớm. An Giang cũng đề xuất hoàn thiện chính sách giải bản tàu cá, sắp xếp lại đội tàu và hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề sang nuôi biển và dịch vụ hậu cần, đồng thời đưa khu hậu cần nuôi biển 25 ha tại đảo Nam Du vào vận hành.

Ở góc độ chống khai thác bất hợp pháp (IUU), Trung tâm Khoa học và Công nghệ Cửu Long đề xuất lộ trình đến năm 2030: 100% tàu cá xa bờ từ 15 mét trở lên áp dụng nhật ký khai thác điện tử (eCDT), liên thông với cảng cá và nhà máy chế biến; ít nhất 70% vùng nuôi thâm canh trọng điểm số hóa thông tin nền và dùng nhật ký số; 100% phụ phẩm từ nhà máy chế biến ven biển được phân loại, dán mã QR. Giai đoạn 2026–2027 ưu tiên thống nhất bộ mã định danh cho tàu cá, chuyến biển, ao nuôi và lô phụ phẩm. 

Theo TS. Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, tăng trưởng giai đoạn tới không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích và sản lượng mà phải tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Các nhiệm vụ khoa học công nghệ cần xuất phát từ những điểm nghẽn thực tế của từng ngành hàng, xác định rõ đơn vị thực hiện và khả năng ứng dụng vào sản xuất. Trọng tâm là nâng cao chất lượng giống, giảm chi phí thức ăn và vật tư, kiểm soát dịch bệnh, phát triển công nghệ nuôi công nghiệp, nuôi biển xa bờ, cải thiện bảo quản và chế biến sâu. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

An Xuyên

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!