Trợ lực từ chính sách để ngành tôm nâng hiệu quả, giảm phát thải

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản đang đặt trọng tâm vào nuôi trồng thâm canh, công nghệ cao, an toàn sinh học và phát triển bền vững. Nếu được triển khai, chính sách sẽ tạo thêm dư địa để các vùng nuôi đầu tư hạ tầng, công nghệ, kiểm soát dịch bệnh và từng bước chuyển từ sản xuất theo sản lượng sang nâng cao hiệu quả.

Không chạy theo sản lượng bằng mọi giá

Ngành tôm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi phương thức sản xuất khi chi phí đầu vào, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các yêu cầu ngày càng cao từ thị trường xuất khẩu cùng tác động trực tiếp đến hiệu quả của người nuôi. Vì vậy, ngành tôm đang chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.

Cùng đó, chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng tiếp tục nhấn mạnh phát triển thủy sản theo hướng kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm an toàn dịch bệnh và an toàn sinh học.

Các mô hình nuôi tôm bền vững sẽ được định hướng ưu tiên hỗ trợ. Ảnh: Báo Dân trí

Với nuôi tôm, công nghệ cao không chỉ được hiểu là tăng mật độ nuôi. Quan trắc môi trường, cảm biến, tự động hóa cho ăn, kiểm soát ôxy, quản lý dữ liệu ao nuôi, xử lý và tuần hoàn nước hay các giải pháp sinh học phòng ngừa dịch bệnh đang trở thành những công cụ giúp người nuôi kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất. Mục tiêu không chỉ tạo ra nhiều tôm hơn mà còn giảm chi phí, nâng tỷ lệ sống, ổn định chất lượng sản phẩm và giảm tác động đến môi trường.

Ưu tiên mô hình sản xuất bền vững

Theo dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản thâm canh, công nghệ cao, an toàn sinh học và bền vững.

Trong đó, đối tượng được xem xét hỗ trợ là tổ chức, cá nhân có hoạt động nuôi trồng thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam và đáp ứng các điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, chính sách yêu cầu cụ thể về quy hoạch, quyền sử dụng hợp pháp đất, mặt nước hoặc khu vực biển; phương án sản xuất; thiết kế kỹ thuật; giải pháp công nghệ; kiểm soát môi trường, dịch bệnh, chất thải và an toàn sinh học. Đồng thời, cơ sở nuôi phải sử dụng con giống có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng yêu cầu chất lượng; thực hiện ghi chép, lưu trữ dữ liệu và truy xuất nguồn gốc; phải có vốn đối ứng và cam kết duy trì hoạt động theo quy định.

Các tiêu chí đánh giá tập trung vào những chỉ số trực tiếp như năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất, tỷ lệ sống, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó là yêu cầu giảm hệ số chuyển đổi thức ăn, lượng nước, năng lượng và vật tư đầu vào; giảm nước thải, chất thải, phát thải và tác động đến môi trường.

Ngoài ra, dự thảo Nghị định còn định hướng ưu tiên hỗ trợ các mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững. Theo đó, cơ sở nuôi đáp ứng điều kiện có thể được ưu tiên lồng ghép, bố trí hỗ trợ từ các chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt khi áp dụng công nghệ nuôi tuần hoàn ít thay nước, tiết kiệm tài nguyên; nuôi sinh thái, nuôi hữu cơ, nuôi kết hợp; hoặc công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính.

Hỗ trợ đi đôi cùng tiêu chí đầu ra

Một điểm mới trong chính sách hỗ trợ của dự thảo là nhấn mạnh các chỉ tiêu đầu ra. Theo đó, dự án phải xác định mục tiêu về năng suất, hiệu quả sử dụng nước và năng lượng, giảm phát thải, kiểm soát môi trường, dịch bệnh và thời gian duy trì kết quả sau hỗ trợ. Kết quả thực hiện được cập nhật vào hệ thống dữ liệu quản lý chuyên ngành.

Về dài hạn, chính sách công nghệ cao chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng tổ chức lại sản xuất. Liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, người nuôi, cơ sở sản xuất giống và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu sẽ quyết định khả năng hình thành chuỗi tôm ổn định. Chính vì thế, dự thảo yêu cầu dự án có đầu ra hoặc hợp đồng tiêu thụ ổn định; có nhật ký sản xuất, dữ liệu môi trường và truy xuất nguồn gốc; đồng thời duy trì hoạt động và tạo việc làm theo cam kết.

Đối với ngành tôm, đây có thể là bước quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên dữ liệu, công nghệ và tiêu chuẩn. Khi hiệu quả kinh tế, an toàn sinh học, giảm phát thải và khả năng truy xuất cùng trở thành tiêu chí đánh giá, mục tiêu phát triển ngành tôm bền vững sẽ có cơ sở thực chất hơn.

Tuy nhiên, những nội dung trên hiện vẫn nằm trong dự thảo Nghị định. Hiệu quả chính sách khi được ban hành sẽ phụ thuộc không chỉ vào mức hỗ trợ mà còn vào khả năng tổ chức thực hiện, lựa chọn đúng đối tượng, đầu tư hạ tầng vùng nuôi và tạo điều kiện để người nuôi, doanh nghiệp tiếp cận công nghệ phù hợp.

Bảo Hân

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài