(TSVN) – Chiều 24/2, tại khu vực Xuân Đám và trạm nuôi cá bố mẹ, sản xuất con giống ở cửa Việt Hải (vịnh Lan Hạ, TP Hải Phòng), Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cùng đoàn công tác đã trực tiếp khảo sát hệ thống cơ sở vật chất, quy trình nuôi giữ đàn cá bố mẹ và sản xuất giống của Trung tâm Nghiên cứu, nuôi trồng giống hải sản miền Bắc.
Buổi làm việc tập trung đánh giá tình hình nghiên cứu, sản xuất giống cá cam và cá nhụ bốn râu – hai loài hải sản có giá trị kinh tế cao, được xác định có tiềm năng phát triển thành ngành hàng chủ lực trong chiến lược nuôi biển thời gian tới.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khảo sát tại Trung tâm Nghiên cứu, nuôi trồng giống hải sản miền Bắc. Ảnh: Đinh Mười
Báo cáo với đoàn công tác, PGS.TS Đặng Thị Lụa, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho biết, trung tâm hiện lưu giữ và bảo tồn trên 50 loài hải sản khác nhau. Từ những đối tượng nuôi truyền thống như cá song, cá hồng vằn đến các loài tiềm năng như cá chim vây vàng, mỗi loài đều được xem là nguồn gen quý, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nuôi biển bền vững.
Đáng chú ý, thời gian qua, các nhà khoa học của Viện đã đạt được kết quả bước đầu trong sản xuất giống nhân tạo cá cam – loài cá được ví như “vua cá” nuôi lồng nhờ giá trị kinh tế cao và chất lượng thịt vượt trội. Tuy nhiên, theo bà Lụa, việc làm chủ hoàn toàn công nghệ sinh sản nhân tạo đối tượng này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều quốc gia có nghề nuôi biển phát triển. Thành công bước đầu của đơn vị mở ra khả năng chủ động nguồn giống chất lượng cao, giảm phụ thuộc khai thác tự nhiên, hướng tới xây dựng chuỗi sản xuất hiện đại và xuất khẩu giá trị cao.
Song song với đó, Viện cũng đã làm chủ công nghệ sản xuất giống cá nhụ bốn râu – loài cá bản địa có tiềm năng phát triển mạnh trong điều kiện nuôi nước lợ. Theo định hướng, cá Nhụ bốn râu có thể trở thành giải pháp thay thế hiệu quả ở những vùng nuôi tôm kém hiệu quả, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi và giảm rủi ro cho người dân.
Tuy nhiên, đại diện Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cũng thẳng thắn nhìn nhận một số thách thức cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Trong đó, việc nâng cao tần suất sinh sản của cá bố mẹ, xây dựng công thức thức ăn chuyên biệt nhằm giảm tỷ lệ hao hụt ở giai đoạn nuôi thương phẩm là những vấn đề cấp thiết nếu muốn phát triển hai đối tượng này theo hướng công nghiệp quy mô lớn.
PGS.TS Đặng Thị Lụa khẳng định, việc làm chủ công nghệ sản xuất giống hai đối tượng chiến lược sẽ tạo nền tảng đột phá cho ngành nuôi biển. Thời gian tới, Viện sẽ tập trung nguồn lực, hoàn thiện quy trình kỹ thuật để sớm chuyển giao cho doanh nghiệp và người dân, từng bước hình thành ngành hàng có giá trị cao, đóng góp thiết thực cho kinh tế biển.
Cá nhụ. Nguồn: ST
Bên cạnh cá cam và cá nhụ bốn râu, các đối tượng khác vẫn tiếp tục được nghiên cứu, phát triển song song. Với những loài đã làm chủ công nghệ sản xuất giống, đơn vị sẽ ưu tiên hoàn thiện quy trình nuôi thương phẩm; còn với các loài mới, trọng tâm là cải tiến công nghệ sản xuất giống nhằm bảo đảm tính ổn định, bền vững.
Sau khi kiểm tra thực tế hệ thống bể ương, khu nuôi cá bố mẹ và nghe báo cáo, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến ghi nhận những kết quả nghiên cứu bước đầu của Viện, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu phát triển nuôi biển theo hướng hiện đại, công nghiệp, giảm khai thác tự nhiên ngày càng cấp thiết.
Thứ trưởng nhấn mạnh, hai đối tượng cá Cam và cá Nhụ bốn râu cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, có lộ trình và chỉ tiêu cụ thể. Các nhà khoa học phải tiếp tục bám sát thực tiễn sản xuất, tập trung giải quyết những “nút thắt” kỹ thuật còn tồn tại, nhất là vấn đề nâng cao tỷ lệ sống, tối ưu hóa thức ăn và hoàn thiện quy trình nuôi thương phẩm.
Đồng thời, Thứ trưởng cũng lưu ý, đơn vị cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, địa phương để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ, tránh tình trạng nghiên cứu dừng ở quy mô phòng thí nghiệm mà chưa lan tỏa ra sản xuất đại trà.
Minh Khuê