Kỹ thuật nuôi tu hài bằng giàn treo cố định

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Tu hài là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Chúng có thể thích nghi với môi trường nước trong với độ mặn ổn định, có thủy triều lên xuống hay ở các vùng bãi bùn cửa sông nước lợ.

Vị trí

Địa điểm được lựa chọn nằm trên các eo, vụng, vịnh, kín sóng gió có nước lưu thông, dòng chảy 0,2 – 0,5 m/s, có độ sâu nhất định, độ sâu thấp nhất khi nước triều xuống trung bình khoảng 3 m. Độ mặn quanh năm của nước từ 28‰ trở lên. Độ trong của nước trên 2,5 m. Nước lưu thông tốt, thành phần thực vật phù du phong phú, nước không bị ngọt hóa, không bị ô nhiễm bởi các ngành sản xuất, và chất thải khu dân cư, không có nguồn nước ngọt đổ vào.

Chuẩn bị lồng, giàn treo

Dùng lồng (khay) nhựa cỡ 50 x 35 x 12 cm, đáy và thành khay có các khe thông nước. Đáy lồng lót một lớp lưới 2a = 1 mm, lưới bao thành lồng có cỡ mắt 2a = 20 mm, lồng có nắp thì không cần dùng lưới nếu không có nắp thì dùng lưới 2a = 20 – 25 mm, dây quang là dây nilon có đường kính 5 – 7 mm, dây treo lồng là dây nilon có đường kính 7 – 10 mm, dùng kéo cắt lưới và dùng kim khâu lưới vào lồng, đổ cát và mảnh vụn vỏ nhuyễn thể vào lồng có độ dày 8 – 10 cm.

Để làm giàn treo, cần dùng cọc gỗ đóng thẳng hàng và chắc chắn xuống đáy, khoảng cách giữa các cọc 1,5 – 2 m. Dùng dây thép buộc các cây gỗ giằng ngang thân và đầu cọc tạo ra giàn treo vững chắc, giàn làm vuông góc với chiều dòng chảy của nước.

Đặc biệt lưu ý là giàn phải ở nơi có độ sâu trên 5 m so với mép sóng hoặc dưới mức nước ròng nhất (mặt 0 Hải đồ) 0,5 m.

Thả giống

Chọn giống: Con giống được mua từ các cơ sở sản xuất giống hoặc các cơ sở thu gom giống ngoài tự nhiên đảm bảo một số tiêu chí sau: Giống khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ, vỏ màu trắng ngà, qua vỏ nhìn rõ đường thức ăn có viền đen bên trong, khi thả vào nước sau 3 – 5 phút xúc tu thò ra khỏi vỏ để xi phông. Giống để nuôi thương phẩm là loại giống cấp 2 có chiều dài vỏ từ 2,5 – 3 cm. Tuy nhiên, theo kết quả của một số nghiên cứu, người nuôi có thể cân nhắc thả giống kích cỡ 4 – 5 cm để tăng sức đề kháng cho tu hài trong quá trình nuôi và giảm thời gian nuôi và rủi ro dịch bệnh vì tu hài nuôi thường mắc bệnh ở giai đoạn giống cỡ 2 – 3 cm.

Mùa vụ: Từ tháng 4 – 6 hàng năm.

Mật độ: Từ 30 – 50 con/lồng, tương đương 200 – 300 con/m2.

Vận chuyển: Con giống được vận chuyển từ cơ sở sản xuất đến vị trí nuôi bằng hai hình thức:

Vận chuyển hở: Dùng thùng xốp cỡ: 50 x 40 x 30 cm, rải lớp cát mịn 10 cm dưới đáy, cấp nước lên trên cát cao 20 cm sau đó đưa giống vào và sục khí trong quá trình vận chuyển. Mật độ vận chuyển: Một thùng xốp như trên từ 2.000 con đến 2.500 con/ thùng (cỡ giống 2,5 – 3 cm).

Vận chuyển kín: Túi nilon cỡ 25 x 60 cm chứa 1,5 – 2 lít nước định lượng tu hài và đóng túi bơm ôxy cột chặt xếp vào thùng xốp ổn định nhiệt độ trong quá trình vận chuyển. Mật độ vận chuyển: một túi như trên từ 500 con đến 800 con/túi (cỡ giống 2,5 – 3 cm).

Thả giống: Cho cát vào lồng dày 7 – 8 cm. Treo lồng dưới nước sao cho mặt lồng vẫn không chìm dưới mặt nước. Lấy ngón tay chọc xuống cát làm thành các lỗ đều trên mặt cát và thả vào mỗi lỗ 1 con. Không được thả những con giống đã bị vỡ vỏ. Buộc nắp lồng và từ từ thả xuống, đáy lồng cách mặt bãi từ 0,3 – 0,5 m.

Tu hài là đối tượng có thể nuôi ở nhiều hình thức khác nhau. Ảnh: ST

Quản lý, chăm sóc

Mỗi tháng định kỳ kéo lồng nuôi lên 2 lần để kiểm tra, làm vệ sinh lồng, loại bỏ hết vật lạ trong lồng, dùng bàn chải đánh rửa sạch mặt ngoài lồng.

Lấy tay bới cát xuống đến độ sâu ½ độ dày của lớp cát, nếu phát hiện chỗ có cát màu đen, dấu hiệu ở đó có thể có một số tu hài bị chết, phải loại bỏ tu hài chết và thay cát mới.

Kiểm tra giây buộc cũng như dây treo lồng, nếu bị cua hoặc cá làm rách lưới hoặc có nguy cơ dứt dây thì cần thay ngay. Bên ngoài lồng có các loại động vật như sun, hà bám gây hại cho lồng nuôi thì cần dùng dao đẽo gọt để loại bỏ, tuy nhiên nếu do sun, hà và quá trình nuôi lâu ngày làm hư hỏng vật liệu cần phải kiểm tra và thay thế.

Những ngày có mưa to, độ mặn thay đổi ảnh hưởng đến môi trường sống, người nuôi cần thiết phải thả dây treo sâu tới mức có thể. Đồng thời thực hiện phương pháp di dời sang bãi nuôi dự phòng nơi có độ mặn cao hơn để duy trì qua mùa mưa nếu như vùng nuôi có độ mặn giảm xuống dưới 25‰, chờ đến khi môi trường trở lại bình thường thì kéo trở lại vị trí nuôi và cố định dây treo ở mức quy định. Sau mưa 1 ngày, cần kiểm tra nếu có sự cố phải xử lý ngay.

Kiểm tra sinh trưởng 1 lần/tháng, lấy ngẫu nhiên 3 lồng nuôi treo, đếm số con còn lại đo tính chiều dài, rộng, cao và tính tỷ lệ sống so với lần kiểm tra trước. Từ hai tháng nuôi trở đi cần thêm cát vào lồng đến khi thu hoạch thì cát cách mặt lồng 5 cm là đủ.

Phòng bệnh

Trong quá trình nuôi, tu hài thường bị bệnh sưng vòi. Bệnh này xuất hiện ở cả tu hài giống bé (kích thước khoảng 2 mm), tu hài giống lớn (kích cỡ khoảng 2 – 3 cm), tu hài kích cỡ thương phẩm với tỷ lệ chết trong đợt dịch lên đến 100% với dấu hiệu đặc trưng của bệnh là vòi tu hài bị sưng, bọng nước và bong tróc (Phan Thị Vân và cộng sự, 2013; 2014; Trương Thị Mỹ Hạnh và cộng sự, 2014; 2015).

Nguyên nhân chính gây bệnh sưng vòi bước đầu được xác định là do tác nhân VLPs (Virus-like particles) ký sinh trong phần vòi của tu hài bệnh (Phan Thị Vân và cộng sự, 2014; Trương Thị Mỹ Hạnh và cộng sự, 2014; 2015), song việc phân loại và định danh VLPs, con đường lây nhiễm và lan truyền của tác nhân gây bệnh VLPs cũng như các điều kiện phát sinh bệnh sưng vòi vẫn chưa được làm sáng tỏ. Do đó, khi đã mắc bệnh, việc điều trị là kém thả thi.

Vì vậy, để phòng bệnh, người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp chăm sóc, quản lý. Đồng thời lưu ý, chọn cát nuôi tu hài với tỷ lệ 70% vỏ nhuyễn thể và 30% cát, trong đó cát được xử lý trước khi nuôi để loại bỏ vi khuẩn gây bệnh, ký sinh,… bằng Chlorine 30 ppm trong 24 giờ và trung hòa bằng Thiosulphate (tỷ lệ1:1) sau đó phơi nắng.

Bên cạnh đó, cần duy trì mật độ thả hợp lý, theo dõi chặt chẽ các yếu tố môi trường nước như nhiệt độ, độ mặn, và khẩn trương thu hoạch hoặc san thưa mật độ khi cần thiết để tránh thiệt hại. Khi phát hiện tu hài chết, cần thu gom và xử lý ngay để tránh lây lan, đồng thời vệ sinh khu vực nuôi.

Thu hoạch

Thông thường một vụ nuôi kéo dài khoảng 15 – 18 tháng từ khi thả giống ra ương đến khi thu hoạch. Người nuôi nên thu hoạch tu hài vào giai đoạn tuyến sinh dục phát triển (khoảng từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau). Tuy nhiên, tu hài là đối tượng có giá trị kinh tế cao và là đặc sản quý hiếm do vậy khi thu hoạch phụ thuộc rất lớn vào thị trường tiêu thụ. Người nuôi cũng có thể cân nhắc thu theo nhu cầu của thị trường để tránh phải bảo quản với thời gian lâu tu hài sẽ gầy và hao hụt.

Có thể thu tỉa hoặc thu toàn bộ và thả vào một giai đặt dưới nước trước khi vận chuyển đến thị trường.

Nên thu hoạch tu hài vào ban ngày khi thủy triều rút xuống giúp việc quan sát và nhặt tu hài sẽ dễ dàng hơn, tránh bị lãng phí hoặc bỏ sót tu hài.

Trên cơ sở kiểm tra hàng ngày, dự tính sản lượng tu hài có thể thu được để bố trí nhân lực, dụng cụ, biện pháp bảo quản và vận chuyển sản phẩm cho phù hợp.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!