(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Công văn số 458/BNNMT-TSKN gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc tăng cường chỉ đạo phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm bảo đảm thực hiện kế hoạch tăng trưởng năm 2026.
Năm 2025, ngành thủy sản triển khai sản xuất trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là những thay đổi về chính sách thuế và thương mại của một số thị trường lớn, cùng với căng thẳng thương mại và xung đột lợi ích giữa các nền kinh tế. Những yếu tố này đã tác động đáng kể tới chuỗi cung ứng và tiêu thụ thủy sản toàn cầu.
Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, ngành thủy sản vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản lượng thủy sản năm 2025 đạt khoảng 9,95 triệu tấn, tăng 3% so năm 2024, trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 6,1 triệu tấn, tăng 5,1%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tiếp tục duy trì ở mức cao, ước đạt 11,32 tỷ USD, trong đó các sản phẩm từ nuôi trồng đóng góp hơn 8 tỷ USD.
Để tiếp tục phát huy kết quả đạt được và hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tăng cường chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tổ chức triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương cần rà soát, chuẩn bị đầy đủ nguồn giống, thức ăn thủy sản và các sản phẩm xử lý môi trường để phục vụ sản xuất trong năm 2026, đặc biệt đối với các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ, cá tra và các loài nuôi biển.
Các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống thủy sản. Mục tiêu là bảo đảm các cơ sở hoạt động đúng quy định, được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và duy trì kiểm tra định kỳ nhằm bảo đảm chất lượng con giống cung cấp ra thị trường.
Bộ cũng khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển giống thủy sản, nhất là giống thủy sản bố mẹ. Huy động nguồn lực nghiên cứu, chọn tạo giống theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phát triển thức ăn thủy sản theo hướng giảm phát thải, thân thiện môi trường cũng được coi là giải pháp quan trọng để từng bước “xanh hóa” các vùng nuôi và nâng cao giá trị sản phẩm.
Trong tổ chức sản xuất, Bộ đề nghị các địa phương cần thực hiện nghiêm khung lịch mùa vụ thả giống đối với các đối tượng nuôi chủ lực, đồng thời linh hoạt điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế. Chuẩn bị đầy đủ các phương án, điều kiện cần thiết để ứng phó với thiên tai, thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến sản xuất nuôi trồng thủy sản.
Cơ cấu sản xuất nuôi trồng thủy sản cần được rà soát, điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn. Trong đó, tiếp tục ổn định và nâng cao hiệu quả các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ, cá tra, cá rô phi và cá biển. Chủ động theo dõi, dự báo diễn biến thị trường, kiểm soát quy mô sản xuất, tránh phát triển nóng, tự phát, gây mất cân đối cung – cầu và rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó, các địa phương được khuyến khích phát triển có chọn lọc các đối tượng nuôi đặc thù hoặc có tiềm năng thị trường như tôm hùm, cua biển, nhuyễn thể, rong biển,… phù hợp với điều kiện sinh thái và lợi thế của từng vùng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương đẩy mạnh tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Việc tăng cường liên kết giữa các khâu từ sản xuất giống, cung ứng thức ăn, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm rủi ro cho người nuôi.
Các doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung, liên kết thu mua sản phẩm với người nuôi và chia sẻ thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Cùng với đó, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học – công nghệ, công nghệ sinh học và công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản. Khuyến khích phát triển mô hình nuôi thông minh, nuôi trồng tuần hoàn, nuôi phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nuôi tham gia đầu tư vào nuôi trồng công nghệ cao, chế biến sâu, dịch vụ hậu cần và các dịch vụ hỗ trợ phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Song song với phát triển sản xuất, công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản cần được thực hiện nghiêm túc và đồng bộ. Các địa phương phải bố trí nguồn lực để triển khai hiệu quả kế hoạch quốc gia phòng chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi giai đoạn 2021 – 2030.
Cơ quan chuyên môn cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở để theo dõi sát tình hình dịch bệnh, hướng dẫn người nuôi thực hiện các biện pháp phòng bệnh chủ động và xử lý kịp thời khi phát sinh dịch bệnh.
Trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương, lựa chọn một số doanh nghiệp sản xuất thủy sản phục vụ xuất khẩu và các cơ sở sản xuất giống thủy sản trên địa bàn để hỗ trợ giám sát dịch bệnh, hỗ trợ chuyên môn trong quá trình xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh; đồng thời tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản đăng ký cấp Giấy chứng nhận và duy trì cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất nuôi trồng thủy sản, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến và xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy ngành thủy sản phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.
Bảo Hân