(TSVN) – Dù xuất khẩu tôm cả nước trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,46 tỷ USD, tăng 15% so cùng kỳ năm trước, riêng thị trường Mỹ lại giảm mạnh hơn 21%, chỉ đạt khoảng 152 triệu USD. Điều này cho thấy Mỹ đang trở thành điểm nghẽn đáng lo ngại đối với mục tiêu phục hồi tăng trưởng của ngành tôm Việt Nam.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), khó khăn lớn nhất hiện nay của ngành tôm khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ là áp lực thuế quan và các rào cản thương mại.
Tôm Việt Nam tiếp tục chịu tác động từ thuế chống bán phá giá (POR) do Bộ Thương mại Mỹ áp dụng hằng năm, đồng thời phải đối mặt với nguy cơ gia tăng điều tra thương mại theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974. Không chỉ vậy, các mức thuế nhập khẩu và chính sách phòng vệ thương mại thay đổi liên tục khiến doanh nghiệp khó dự báo chi phí và xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn.
Xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ đang đứng trước nhiều thách thức. Ảnh: ST
Bên cạnh thuế quan, rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe cũng là thách thức lớn. Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng kháng sinh, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc từ khâu nuôi trồng đến chế biến. Các lô hàng phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn về hồ sơ vùng nuôi, nhật ký nuôi, kiểm nghiệm chất lượng và chuỗi cung ứng minh bạch. Điều này làm tăng thời gian thông quan, chi phí kiểm tra và rủi ro bị giữ hàng.
Áp lực cạnh tranh về giá cũng đang khiến tôm Việt Nam gặp bất lợi. Ecuador và Ấn Độ, hai đối thủ lớn tại thị trường Mỹ, có lợi thế về quy mô nuôi công nghiệp, chi phí sản xuất thấp và nguồn cung dồi dào. Trong khi đó, chi phí nuôi tôm ở Việt Nam tăng khoảng 30 – 40% trong những năm gần đây, nhưng giá bán quốc tế lại chưa phục hồi tương xứng. Doanh nghiệp Việt Nam buộc phải giảm giá để giữ đơn hàng, kéo theo biên lợi nhuận toàn chuỗi từ người nuôi đến nhà máy chế biến đều bị thu hẹp.
Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ tại Mỹ suy giảm do lạm phát và khó khăn kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu tôm. Các nhà nhập khẩu Mỹ thận trọng hơn trong việc ký hợp đồng, giảm lượng tồn kho và ép giá mua. Một số phân khúc sản phẩm còn giảm mạnh, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng và các dòng sản phẩm cao cấp.
Theo VASEP, sự sụt giảm xuất khẩu tôm sang Mỹ không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà là kết quả của nhiều yếu tố đan xen.
Hiện tại, sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, người tiêu dùng Mỹ có xu hướng thắt chặt chi tiêu, ưu tiên các sản phẩm thiết yếu hơn thực phẩm cao cấp như tôm. Điều này khiến nhu cầu nhập khẩu tôm giảm và các nhà nhập khẩu hạn chế đặt hàng số lượng lớn.
Cùng đó, các kỳ rà soát thuế chống bán phá giá (POR19, POR20…) khiến doanh nghiệp phải gánh thêm chi phí pháp lý, chi phí dự phòng thuế và rủi ro tài chính. Nhà nhập khẩu Mỹ cũng trở nên dè dặt hơn khi hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam vì lo ngại biến động thuế suất.
Còn ở trong nước, ngành tôm Việt Nam đang chịu áp lực từ giá thức ăn, giống, điện, nhiên liệu và chi phí logistics tăng mạnh. Trong khi đó, dịch bệnh trên tôm, chất lượng giống chưa đồng đều, môi trường nuôi xuống cấp và thời tiết cực đoan làm tăng rủi ro sản xuất. Nguồn cung nguyên liệu vì vậy thiếu ổn định, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc nhận đơn hàng dài hạn và bảo đảm tiến độ giao hàng.
Không chỉ vậy, ngành tôm Việt Nam còn tồn tại những hạn chế mang tính cơ cấu, khi mà chuỗi sản xuất còn phân tán, quy mô nuôi nhỏ lẻ, chưa hình thành được lợi thế vượt trội về chi phí như Ecuador hay Ấn Độ. Tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu và giá trị gia tăng chưa cao, trong khi thị trường Mỹ ngày càng ưu tiên các sản phẩm tiện lợi, chế biến sẵn và có truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Để phục hồi và thúc đẩy xuất khẩu tôm sang Mỹ, theo VASEP, ngành tôm cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ ngắn hạn đến dài hạn.
Trước hết, đối với các rào cản thương mại và thuế quan, cần phối hợp chặt chẽ trong việc theo dõi chính sách của USTR, DOC, NOAA và FDA; chuẩn bị hồ sơ dữ liệu đầy đủ cho các kỳ rà soát thuế; đồng thời tăng cường hoạt động vận động chính sách và bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp Việt Nam tại Mỹ.
Cùng đó, cần chuẩn hóa mã số vùng nuôi, số hóa nhật ký nuôi, kết nối dữ liệu từ người nuôi – cơ sở thu gom – nhà máy chế biến – doanh nghiệp xuất khẩu. Chuỗi cung ứng phải có khả năng truy xuất đến từng lô nguyên liệu, kiểm soát chặt đầu vào và lưu trữ hồ sơ đầy đủ. Khi chứng minh được tính minh bạch và tuân thủ, doanh nghiệp sẽ giảm đáng kể rủi ro bị kiểm tra kéo dài hoặc mất niềm tin từ đối tác nhập khẩu.
Đồng thời, ngành tôm cần tái cơ cấu theo hướng nuôi công nghệ cao, tiết kiệm thức ăn, điện và nước; nâng cao chất lượng giống; kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; phát triển vùng nuôi tập trung và liên kết chuỗi. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ người nuôi tiếp cận vốn ưu đãi, công nghệ mới và mô hình nuôi bền vững để giảm chi phí sản xuất.
Thêm vào đó, doanh nghiệp Việt Nam cần tập trung vào các sản phẩm chế biến sẵn, tiện lợi, có giá trị gia tăng cao như tôm tẩm bột, tôm ăn liền, sản phẩm phục vụ nhà hàng và bán lẻ cao cấp. Đây là phân khúc mà Việt Nam có lợi thế để cải thiện biên lợi nhuận và giảm phụ thuộc vào cạnh tranh giá thấp. Đồng thời, mở rộng thị trường để phân tán rủi ro và tạo thế cân bằng tốt hơn cho ngành.
Quan trọng hơn hết là phải tăng cường mối liên kết chuỗi. Bởi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và người nuôi tôm là yếu tố quyết định để triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ.
Phan Thảo