Xuất khẩu tôm: Tăng trưởng nhưng vẫn chưa hết lo

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – 6 tháng đầu năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm cả nước ước đạt 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ và chiếm 40,5% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu chung của toàn ngành thủy sản. Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng đầy ấn tượng trên, các doanh nghiệp ngành tôm vẫn chưa hết nỗi lo khi áp lực về chi phí, thị trường, locgistics… vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó đoán định.

Khó khăn chồng chất

6 tháng đầu năm 2026 được các doanh nghiệp ghi nhận là khoảng thời gian hết sức khó khăn, chủ yếu đến từ các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế, chi phí cũng như các vấn đề phát sinh từ nội tại. Thị trường Hoa Kỳ được doanh nghiệp nhìn nhận là nơi khởi phát nhiều khó khăn, thách thức và cũng là thị trường có nhiều bất định nhất. Đó là mức thuế chống bán phá giá cao; là mức thuế bổ sung 10% trong 150 ngày; là hàng loạt yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe, như: kiểm soát dư lượng kháng sinh, truy xuất nguồn gốc… khiến xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ trong những tháng đầu năm giảm sâu so với cùng kỳ.

Còn tại EU, đây là thị trường vốn đòi hỏi khắt khe về chuỗi cung ứng bền vững, phúc lợi động vật, môi trường và tỷ lệ bao bì tái chế… trong khi tỷ lệ tôm Việt Nam đạt chứng nhận ASC (Aquaculture Stewardship Council) còn thấp so với Ecuador (khoảng 30 – 40%), khiến cho việc tiếp cận các hệ thống phân phối cao cấp tại châu Âu ngày càng khó khăn hơn, kém cạnh tranh hơn, nhất là những phân khúc cùng mã hàng với Ecuador. Chưa hết, Ấn Độ cũng đang tăng tốc mạnh, đã hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU vào đầu năm 2026, mở ra lợi thế thuế quan mới tại thị trường này. Ngoài ra, Indonesia cũng là đối thủ cạnh tranh đáng kể về quy mô sản xuất.

Một vấn đề cũng khiến doanh nghiệp hết sức đau đầu đó chính là chi phí logistics ngày càng leo thang theo đà căng thẳng của chiến sự Trung Đông. Theo các doanh nghiệp, cước vận tải container quốc tế thời gian qua đang tiến gần mức cao nhất trong gần hai năm, trong bối cảnh nhu cầu đặt chỗ tăng mạnh từ các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ do lo ngại các mức thuế mới. Điều này khiến mùa nhập khẩu cuối năm đến sớm hơn thường lệ, làm gia tăng áp lực lên toàn bộ thị trường vận tải biển – đặc biệt là các tuyến đi Hoa Kỳ và EU vốn phụ thuộc lớn vào container lạnh và yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ, lịch tàu. Sự gia tăng đáng kể cước vận tải biển quốc tế được doanh nghiệp đánh giá như là “sát thủ thầm lặng” đã và đang bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp.

Chiến sự Trung Đông không chỉ đẩy cước vận tải biển quốc tế tăng cao mà còn làm tăng hầu hết các chi phí đầu vào của doanh nghiệp do giá xăng dầu đồng loạt tăng cao làm tăng giá thành sản phẩm. Trong khi đó, từ sau Tết Nguyên Đán, sức tiêu thụ tại các thị trường xuất khẩu lớn vẫn còn yếu; trong khi nguồn cung tôm nguyên liệu trong nước lại khá dồi dào khiến giá tôm nguyên liệu lẫn tôm chế biến thành phẩm đều giảm mạnh, tạo áp lực lợi nhuận ngày càng lớn cho cả người nuôi tôm lẫn doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Trước áp lực lớn về lợi nhuận, người nuôi có xu hướng chuyển sang nuôi tôm kích cỡ lớn để bán giá cao, trong khi thị trường lại có nhu cầu cao về tôm cỡ trung và cỡ nhỏ do người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, khiến doanh nghiệp gặp khó trong ký kết đơn hàng cũng như kế hoạch thu mua nguyên liệu.

Vẫn tăng trưởng trong thế khó

Tuy khó khăn ngày một nhiều hơn, nhưng ngành tôm cũng có được không ít yếu tố thuận lợi góp phần duy trì đà tăng trưởng khá ấn tượng trong 6 tháng đầu năm. Đó là nhu cầu đặc biệt mạnh ở nhóm tôm sú, tôm hùm và các sản phẩm phục vụ phân khúc tiêu dùng cao cấp, nhà hàng tại thị trường Trung Quốc (gồm cả Hồng Kông), đưa Trung Quốc trở thành động lực tăng trưởng chính của toàn ngành thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng. Việt Nam đã vươn lên dẫn đầu thị phần tôm hùm nhập khẩu vào Trung Quốc với hơn 24.000 tấn, chiếm khoảng 34,5%, nhờ đối thủ cạnh tranh chính là Canada bị áp thuế bổ sung 25%, cùng lợi thế địa lý gần, thời gian giao hàng nhanh và khả năng cung ứng hàng sống là những yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam bứt phá tại phân khúc này.

Riêng thị trường EU vẫn giữ đà tăng trưởng ổn định, với mức tăng khoảng 28% trong giai đoạn đầu năm cho thấy nhu cầu tại thị trường châu Âu vẫn duy trì, dù mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Thị trường Hoa Kỳ dù tính chung 6 tháng là gần như đi ngang, nhưng với tín hiệu phục hồi trong tháng 6 sau giai đoạn sụt giảm mạnh đầu năm do áp lực thuế quan, mở ra triển vọng sáng sủa hơn cho con tôm Việt Nam trong 6 tháng cuối năm, nhất là ở phân khúc hàng giá trị gia tăng. Theo đánh giá của doanh nghiệp, đến đầu tháng 6, giá tôm nguyên liệu thế giới đã gần như chạm đáy nên đây cũng là lúc các hệ thống phân phối quốc tế lên kế hoạch tăng cường dự trữ hàng, chuẩn bị cho mùa tiêu thụ cao điểm cuối năm. Đối với thị trường lớn khác là Nhật Bản, ưu thế tuyệt đối vẫn nghiêng về phía con tôm Việt Nam, nên vẫn có sự tăng trưởng nhất định, dù chưa như kỳ vọng.

Với những thuận lợi, khó khăn trên, theo đánh giá của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), ngành tôm vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng trong 6 tháng đầu năm, dù bức tranh tăng trưởng ấy không hề bằng phẳng. Điều này rất dễ nhận thấy qua hai tháng đầu năm, khi đà tăng trưởng được đẩy lên mức 20% nhờ lực kéo từ một số thị trường lớn, nhưng từ cuối quý I, khi áp lực chi phí đầu vào ngày càng tăng thêm trong khi giá bán trên đà giảm dần, cùng với đó là những rào cản thương mại tại các thị trường chủ lực ngày càng siết chặt hơn, xuất khẩu lại quay đầu giảm. Tuy nhiên, bước sang tháng 5, đà sụt giảm bị chặn đứng, dấu hiệu phục hồi đã dần quay trở lại đưa kim ngạch xuất khẩu tôm tháng 6 đạt 445,9 triệu USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ và cũng là mức tăng trưởng cao nhất kể từ đầu năm. Kết quả này được đánh giá là rất tích cực nhằm tạo đà cho ngành tôm bước vào giai đoạn tăng tốc mạnh mẽ trong nửa cuối năm.

Rủi ro và triển vọng

Đối với con tôm, cuối năm luôn được xem là mùa tiêu thụ cao điểm do đây thời điểm diễn ra các dịp lễ hội, Giáng sinh và Tết Dương lịch… nên hầu hết các thị trường nhập khẩu tôm lớn, như: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật… đều có nhu cầu nguồn hàng cao để phục vụ người tiêu dùng. Trong khi đó, các dự báo đều cho thấy, tồn kho tại các nước nhập khẩu đã giảm mạnh trong nửa đầu năm và nguồn cung tôm thế giới sẽ giảm, mở ra dư địa cho các đơn hàng mới. Nhóm thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, ASEAN và Hàn Quốc… tiếp tục cho thấy đà tăng trưởng tốt và được kỳ vọng là điểm tựa chính để duy trì đà xuất khẩu. Mặt khác, nhu cầu tiêu thụ tôm trong giai đoạn này chủ yếu nằm ở phân khúc hàng chế biến sâu, giá trị gia tăng vốn là lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam nên sự kỳ vọng về khả năng bứt tốc trong giai đoạn này là hoàn toàn có cơ sở.

Điều này cũng chính là cơ sở để VASEP đưa ra nhận định rằng, áp lực đối với ngành tôm trong nửa cuối năm 2026 sẽ không đến từ phía nhu cầu thị trường nhiều, mà chủ yếu đến từ chi phí vận chuyển, nguồn nguyên liệu và các rào cản thương mại quốc tế. Theo đó, cước vận tải biển được dự báo tiếp tục xu hướng tăng, có nguy cơ ăn mòn lợi nhuận doanh nghiệp và làm chậm tiến độ giao hàng, đặc biệt trên các tuyến đi Hoa Kỳ và EU. Rủi ro chính sách thuế tại Hoa Kỳ, như: các đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá và thuế đối ứng vẫn là biến số lớn nhất tác động đến triển vọng thị trường này trong nửa cuối năm. Chi phí nuôi tôm có nguy cơ tiếp tục tăng thêm khoảng 5-7% mỗi quý nếu xu hướng giá thức ăn, con giống và chi phí vận chuyển không hạ nhiệt, gây áp lực trực tiếp lên giá thành nguyên liệu và biên lợi nhuận của doanh nghiệp chế biến.

Theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, cạnh tranh từ Ecuador, Ấn Độ và Indonesia dự kiến sẽ càng gay gắt hơn, đặc biệt tại thị trường EU khi Ấn Độ có thêm lợi thế thuế quan nhờ FTA vừa hoàn tất đàm phán. Ông Lực chia sẻ: “Eucador hiện có tôm thẻ cỡ lớn rất nhiều, giá thành rẻ và hầu hết đều đạt chuẩn ASC nên chúng ta chỉ có thể cạnh tranh với họ ở những phân khúc mà họ chưa làm được. Riêng thị trường Nhật vốn là thế mạnh của con tôm Việt Nam, nên sự cạnh tranh chủ yếu đến từ các doanh nghiệp Việt Nam là chính”. Theo tìm hiểu của phóng viên Tạp chí Thủy sản Việt Nam, hiện hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam lẫn nhà nhập khẩu các nước đều lo ngại rủi ro đến sự bất định của chi phí và chính sách nên việc ký kết các đơn hàng mới đều diễn ra hết sức thận trọng.

Trước cơ hội và rủi ro đan xen, theo VASEP, nửa cuối năm 2026, ngành tôm cần tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng tại các thị trường đang tích cực như: Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc; củng cố năng lực tuân thủ tại các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; kiểm soát tốt chi phí đầu vào và chi phí logistics; đồng thời tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao. Nên xem việc chủ động chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ xuất xứ và nâng cao năng lực quản trị là giải pháp thiết yếu nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý tại thị trường Hoa Kỳ, duy trì niềm tin với các nhà nhập khẩu. Trên cơ sở đó, VASEP dự báo, xuất khẩu tôm 6 tháng cuối năm 2026 sẽ tiếp tục xu hướng tăng trưởng, song với tốc độ thận trọng hơn so với kỳ vọng ban đầu. Còn theo các doanh nghiệp, doanh số xuất khẩu theo kế hoạch nhiều khả năng vẫn sẽ đạt, nhưng chỉ tiêu về lợi nhuận sẽ là rất khó do có sự tăng mạnh của cả chi phí đầu vào lẫn chi phí bán hàng, nhất là chi phí cho cước vận tải biển quốc tế.

Xuân Trường

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài