Cánh cửa hợp tác thương mại đầu tư Việt Nam – EFTA đang rộng mở

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Đối với ngành thủy sản, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EFTA không nên được nhìn nhận như một cú hích về sản lượng ngay lập tức. Tuy nhiên, đây vẫn là cơ hội mới cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn cầu cạnh tranh và nhiều biến động.

Phác thảo bức tranh xuất khẩu thủy sản sang các nước EFTA

Ngày 2/7/2026, Việt Nam và các nước thành viên của Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) gồm: Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein ra tuyên bố chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA Việt Nam – EFTA). Như vậy, sau 14 năm và trải qua 21 phiên đàm phán chính thức, hai bên đã đạt được thống nhất, mở ra giai đoạn hợp tác mới, tạo nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy thương mại, đầu tư và mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các quốc gia EFTA.

Ngành thủy sản được đánh giá là một trong những ngành có triển vọng tích cực. Theo Trung tâm WTO, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đối với ngành thủy sản, các nước EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam ngay khi Hiệp định FTA Việt Nam – EFFTA có hiệu lực.

Thời cơ của ngành còn đến từ thực tế, trước FTA này, thủy sản Việt Nam đã có được vị trí nhất định tại các thị trường EFTA.

Số liệu thống kê từ Cục Hải quan cho thấy, năm 2025, xuất khẩu thủy sản sang Thụy Sĩ đạt 34,31 triệu USD. Việt Nam là thị trường cung cấp thủy sản lớn thứ tư theo lượng (chiếm 9,46%) và thứ năm tính theo trị giá (chiếm 8,11%) trong tổng nhập khẩu của quốc gia này, theo số liệu tính đến tháng 11/2025 của Trung tâm thương mại thế giới.

Các mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang Thuỵ Sĩ gồm: tôm các loại, cá tra, cá basa. Ngành thủy sản nội địa của quốc gia này chỉ đáp ứng 12% nhu cầu trong nước mở ra tiềm năng lớn cho doanh nghiệp Việt Nam.

Đối với Na Uy, đây là quốc gia đứng vị trí thứ 2 về xuất khẩu thủy sản, trên Việt Nam một bậc. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này là 18,48 triệu USD. Xu hướng đang khả quan hơn khi trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang Na Uy đạt 7,027 triệu USD, tăng 36,7%.

Thủy sản Việt Nam hiện diện tương đối khiêm tốn ở thị trường Iceland, với kim ngạch 6 tháng đầu năm 2026 chỉ đạt 0,43 triệu USD. Giao thương với thị trường Liechtenstein còn đạt kim ngạch nhỏ hơn. Trong năm 2025, Việt Nam chỉ xuất khẩu sang Công quốc này ở mức 0,226 triệu USD cho tất cả các mặt hàng. Dù vậy, nhìn từ góc độ lạc quan, thủy sản Việt Nam vẫn còn dư địa cực kỳ lớn để khai thác hai thị trường EFTA nói trên.

Cơ hội từ nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), FTA Việt Nam – EFTA không nên được nhìn nhận như một “cú hích sản lượng” ngay lập tức, mà là cơ hội mở thêm một nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao và phù hợp với định hướng nâng giá trị sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.

Đây là một thực tế hiển nhiên bởi lẽ, dù có dân số chỉ vào khoảng 15 triệu người, GDP bình quân đầu người của các nước EFTA đạt hơn 105.000 USD, cao gấp hơn 2 lần GDP bình quân đầu người của các nước thuộc Liên minh châu Âu EU.

Đối với thủy sản Việt Nam, lợi ích đa dạng hoá thị trường, giảm bớt phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống không chỉ mang ý nghĩa về sản lượng. Quan trọng hơn, các sản phẩm thủy sản xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu khắt khe về chất lượng và đáp ứng tâm lý người tiêu dùng thu nhập cao. Chẳng hạn, Na Uy nằm trong tốp 10 quốc gia tiêu thụ thực phẩm hữu cơ tính trên đầu người cao nhất thế giới năm 2019, đồng nghĩa, người tiêu dùng quốc gia này sẵn sàng chi phi cao hơn cho các sản phẩm có chứng nhận hữu cơ.

“Đây không phải thị trường có thể mở rộng bằng cách cạnh tranh giá đơn thuần. Cơ hội phù hợp hơn nằm ở nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng và tiêu chuẩn cao như tôm chế biến, tôm đông lạnh chất lượng cao, cá tra phi lê/cắt portion, cá tra chế biến, cá ngừ, mực – bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và sản phẩm tiện dụng cho bán lẻ”, VASEP nhận định.

Thứ hai, FTA Việt Nam – EFTA sẽ mang ưu đãi thuế và khung thương mại ổn định hơn. Các cam kết cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan sẽ giúp hàng hóa có xuất xứ Việt Nam tiếp cận EFTA thuận lợi hơn.

“Dù vậy, ưu đãi thuế chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, hồ sơ chứng nhận, yêu cầu an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường”, VASEP lưu ý.

Lợi ích thứ ba, theo VASEP là cơ hội hợp tác hai chiều. Na Uy và Iceland là những quốc gia có thế mạnh lớn về thủy sản, đặc biệt trong nuôi biển, khai thác, quản lý nguồn lợi, công nghệ lạnh, chế biến sâu và logistics.

Đặc biệt, dù Nauy và Việt Nam đều nằm trong nhóm 3 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, các ngành hàng chủ lực của hai nước không cạnh tranh trực diện với nhau. Trong khi Na Uy xuất khẩu các loài như cá hồi, cá tuyết, cua hoàng đế và tôm từ biển. Việt Nam là nhà cung cấp lớn cá tra và tôm nuôi. Vì vậy, FTA không chỉ mở cơ hội xuất khẩu, mà còn có thể thúc đẩy hợp tác về công nghệ, nguyên liệu, đầu tư, quản trị chuỗi cung ứng và phát triển sản phẩm mới.

“Với các doanh nghiệp Việt Nam có năng lực chế biến, nguồn nguyên liệu thủy sản chất lượng cao từ EFTA cũng có thể hỗ trợ phát triển sản phẩm phục vụ thị trường nội địa, phần phối cho các doanh nghiệp dịch vụ lưu trú, nhà hàng, khách sạn – HORECA, bán lẻ hiện đại hoặc tái xuất”, VASEP lưu ý.

“Chúng ta đã đưa sản phẩm thuỷ sản đến các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU, vì vậy, kể cả các nước EFTA đặt ra các yêu cầu cao, doanh nghiệp vẫn có thể đáp ứng” - PGS. TS Doãn Kế Bôn

Thách thức kép

Xác định rõ tiềm năng, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cũng đồng thời chỉ ra các thách thức với doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm nhập thị trường các nước EFTA.

Thứ nhất là yêu cầu về tiêu chuẩn. Theo VASEP, 03 nước Na Uy, Iceland và Liechtenstein thuộc Khu vực Kinh tế châu Âu, có mức độ gắn kết cao với hệ thống tiêu chuẩn của EU; Thụy Sĩ dù không thuộc EEA nhưng cũng là thị trường có yêu cầu rất cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam muốn đi xa hơn tại EFTA phải chuẩn bị từ vùng nuôi, tàu cá, nguyên liệu, nhà máy, chuỗi lạnh, nhãn mác đến chứng nhận bền vững.

Thứ hai là quy tắc xuất xứ. Nhiều sản phẩm thủy sản Việt Nam sử dụng một phần nguyên liệu nhập khẩu hoặc trải qua nhiều công đoạn chế biến. Do đó, doanh nghiệp cần chờ và nghiên cứu kỹ biểu cam kết, quy tắc xuất xứ theo từng mã HS, cơ chế cộng gộp và thủ tục chứng nhận xuất xứ. Nếu không đáp ứng đúng hồ sơ, ưu đãi thuế sẽ khó chuyển thành lợi thế cạnh tranh thực tế.

Thách thức thứ ba đến từ chính thị trường nội địa. Khi cánh cửa mở ra với doanh nghiệp Việt Nam tại các thị trường EFTA, cùng lúc, các sản phẩm thủy sản EFTA cũng rộng cửa xuất hiện tại thị trường Việt Nam. Nhóm sản phẩm thuộc phân khúc trung – cao cấp như cá hồi, cá thu, cá tuyết, cá thịt trắng và các sản phẩm lạnh/đông lạnh từ Na Uy, Iceland có thể cạnh tranh với sản phẩm nội địa cùng phân khúc, tại nhà hàng – khách sạn, bán lẻ hiện đại và sản phẩm tiện dụng. Nếu doanh nghiệp trong nước không nâng chất lượng sản phẩm nội địa, đầu tư chế biến sâu, phát triển thương hiệu và chuẩn hóa hệ thống phân phối, họ có thể bị hụt hơi ngay trên sân nhà.

“Nhìn tổng thể, FTA Việt Nam – EFTA là một bước tiến hội nhập có ý nghĩa với ngành thủy sản, nhưng không phải là lợi thế tự động. Cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp chuẩn bị sớm về chất lượng, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ, bao bì – nhãn mác và khả năng làm việc với các hệ thống bán lẻ, nhập khẩu, foodservice tại Thụy Sĩ, Na Uy và Iceland”, VASEP khẳng định.

Và lời giải…

Từ góc độ chuyên gia độc lập, PGS.TS Doãn Kế Bôn, Đại học Thương Mại nhận định, đối với ngành thủy sản, lợi thế từ FTA Việt Nam – EFTA là có nhưng không quá lớn.

Về thương mại, bốn thị trường EFTA có thu nhập cao nhưng quy mô dân số không lớn. Đó đều không phải những thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam ở châu Âu.

Bản thân các nước Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein đều có độ mở thị trường lớn với mặt hàng thủy sản. Chẳng hạn, thuế nhập khẩu phần lớn các loại thủy sản và sản phẩm thủy sản chế biến của Thụy Sĩ là 0%. Na Uy cũng áp dụng thuế MFN (Most Favored Nation) mức 0% cho nhiều loại mặt hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam… Nói vậy để thấy, dư địa để miễn giảm thuế theo FTA Việt Nam – EFTA không còn nhiều.

Điểm thứ hai, đi kèm với ưu đãi thuế, bất cứ FTA với các nước phát triển nào đều đi kèm với các hàng rào phi thuế quan, bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật. Hàng rào phi thuế quan của các nước EFTA nhiều khả năng sẽ tương đồng với các nước EU.

“Chúng ta đã đưa sản phẩm thủy sản đến các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU, vì vậy, kể cả các nước EFTA đặt ra các yêu cầu cao, doanh nghiệp vẫn có thể đáp ứng”, PGS.TS Doãn Kế Bôn khẳng định.

Về khía cạnh đầu tư, trên lý thuyết, FTA Việt Nam – EFTA sẽ tạo thuận lợi hơn cho dòng FDI từ khu vực kinh tế này vào Việt Nam, đặc biệt là từ Na Uy hay Iceland. Tuy nhiên, đối với ngành thủy sản, cơ hội sẽ không nhiều như các lĩnh vực sản xuất khác.

Đề cập tới vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia nhận định, Na Uy có thế mạnh rất lớn về năng lượng, hàng hải, thủy sản, công nghệ môi trường và tài chính xanh. Đây cũng là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu hợp tác để nâng cao năng lực sản xuất, chuyển đổi năng lượng và phát triển bền vững.

Với Iceland, cơ hội có thể đến từ các lĩnh vực có tính bổ trợ cao như thủy sản, công nghệ chế biến, bảo quản lạnh, năng lượng địa nhiệt, du lịch bền vững, thực phẩm chất lượng cao và logistics lạnh.

“Iceland là thị trường nhỏ nhưng có năng lực chuyên môn sâu trong các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần học hỏi, đặc biệt là quản lý nguồn lợi thủy sản, chế biến sâu và phát triển chuỗi giá trị dựa trên công nghệ”, bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý gợi ý.

Mới đây, theo thông tin từ Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, trong khuôn khổ Vietfish 2026, 11 doanh nghiệp và tổ chức hàng đầu của Na Uy sẽ tăng cường các hoạt động kết nối với doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực thủy sản. Các lĩnh vực được các doanh nghiệp Na Uy quan tâm gồm công nghệ và thiết bị nuôi trồng thủy sản, thức ăn và dinh dưỡng, vaccine và sức khỏe vật nuôi, di truyền giống, công nghệ chế biến, xử lý phụ phẩm, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực.

Có thể thấy, FTA Việt Nam – EFTA sẽ mở ra rất nhiều cánh cửa hợp tác cho doanh nghiệp Việt Nam. Đơn vị nào chủ động nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm sẽ giành được ưu thế và khả năng phát triển tốt hơn.

Linh Sam

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài