(TSVN) – Thị trường Hoa Kỳ đang mở thêm dư địa cho thủy sản Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng ghẹ, khi nguồn cung từ một số nước bị thu hẹp. Tuy nhiên, cơ hội này đi kèm sức ép từ thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 và yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng kháng sinh trong tôm.
Theo số liệu của Cục Hải quan, tháng 6/2026 thị trường Hoa Kỳ chiếm 17,3% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đứng sau Trung Quốc với 20,8% và trước Nhật Bản với 14,9%. Riêng trong tháng 6, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ đạt 62,1 triệu USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2025; cá ngừ đạt 32,2 triệu USD, tăng tới 120,9%; trong khi cá da trơn đạt 30,1 triệu USD, giảm 7,1%.
Như vậy, Hoa Kỳ vẫn là thị trường có sức mua lớn và đóng vai trò quan trọng đối với ngành thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đang phải cạnh tranh trên nhiều “mặt trận” cùng lúc, từ thuế bổ sung, giá bán, nguồn cung đến các tiêu chuẩn về lao động, môi trường và an toàn thực phẩm.

Sản phẩm ghẹ của Việt Nam đang có cơ hội lớn tại thị trường Hoa Kỳ. Ảnh: VASEP
Trong ngắn hạn, sản phẩm ghẹ có thể là một trong những mặt hàng hưởng lợi trước tiên. Thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, thị trường thịt ghẹ Hoa Kỳ đang đối mặt với tình trạng nguồn cung thu hẹp sau khi các quy định theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) bắt đầu tác động đến hoạt động nhập khẩu. Từ ngày 11/6/2026, sản phẩm ghẹ từ hai nghề khai thác của Philippines không còn được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ, trong khi đó, nguồn cung từ Venezuela cũng gặp gián đoạn. Sự thay đổi này đang tạo ra cơ hội cho các nhà cung cấp còn đáp ứng yêu cầu MMPA, trong đó có Việt Nam.
Theo VASEP, Việt Nam đang có thêm dư địa gia tăng thị phần tại Hoa Kỳ, tuy nhiên, lợi thế về khả năng tiếp cận thị trường đang đi kèm áp lực chi phí khi từ ngày 24/7/2026, hàng Việt Nam chịu thuế bổ sung Mục 301 ở mức 12,5%. Do đó, cơ hội mở rộng xuất khẩu ghẹ sang Hoa Kỳ là rõ rệt, nhưng khả năng cạnh tranh sẽ phụ thuộc nhiều vào giá bán và khả năng hấp thụ chi phí thuế.
Với sản phẩm tôm, mặt hàng có kim ngạch lớn nhất trong cơ cấu thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ, lại đang phải đối mặt với yêu cầu kiểm soát an toàn thực phẩm.
Theo phân tích dữ liệu OASIS của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) do Southern Shrimp Alliance thực hiện, trong 6 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ và Indonesia cùng có 10 dòng hàng tôm bị FDA từ chối, trong khi Việt Nam có 9 dòng hàng bị từ chối do các nguyên nhân liên quan đến an toàn thực phẩm, trong đó có dư lượng thuốc thú y. Chính vì thế, trong bối cảnh FDA tăng cường giám sát, chỉ một số vụ việc vi phạm cũng có thể làm gia tăng rủi ro kiểm tra, từ chối nhập khẩu và ảnh hưởng đến hình ảnh của cả ngành.
Thị trường Hoa Kỳ vì vậy đang mở ra một nghịch lý là mặc dù dư địa tăng thị phần lớn hơn ở một số mặt hàng, nhưng “chi phí để được ở lại thị trường” cũng ngày càng cao. Khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng và tối ưu chi phí sẽ là yếu tố quyết định doanh nghiệp thủy sản Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội này đến đâu.
Ngoài ra, theo Phòng WTO và Hội nhập thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần tiếp tục theo dõi các cuộc điều tra Mục 301 khác của Hoa Kỳ liên quan đến dư thừa sản xuất và sở hữu trí tuệ. Những diễn biến này có thể tiếp tục tác động đến điều kiện tiếp cận thị trường trong thời gian tới.
Bảo Hân