Mở rộng mô hình RAS, hướng tới nuôi thủy sản bền vững

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Ngày 10/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ tổ chức Hội thảo chuyên đề “Chia sẻ kinh nghiệm về ứng dụng mô hình nuôi thủy sản tuần hoàn (RAS)”, nhằm trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, đánh giá hiệu quả và tìm giải pháp nhân rộng mô hình nuôi theo hướng tiết kiệm nước, giảm rủi ro môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Từ thử nghiệm đến những kết quả bước đầu

Tại hội thảo, các đại biểu được giới thiệu về quy trình kỹ thuật của mô hình RAS, đồng thời nghe các chuyên gia và hộ dân trực tiếp tham gia dự án chia sẻ kết quả, thuận lợi cũng như những khó khăn trong quá trình triển khai.

Theo ông Đồ Văn Thừa, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ, mô hình RAS bước đầu đã mang lại những tín hiệu khả quan tại các khu vực Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên và đang tiếp tục được khảo sát để nhân rộng tại xã Cù Lao Dung.

Tuy nhiên, để đưa mô hình vào sản xuất rộng rãi vẫn còn không ít trở ngại. Một trong những vấn đề lớn là điều kiện đất đai và hạ tầng của các hộ nuôi. Nhiều nông hộ không có đủ diện tích để xây dựng hệ thống ao nuôi trực tiếp theo đúng yêu cầu kỹ thuật, từ đó hạn chế khả năng tham gia.

Bên cạnh đó, thị trường cũng đặt ra bài toán không dễ giải. Theo ông Thừa, trong thực tế sản xuất hiện nay có nghịch lý khi tôm đạt kích cỡ lớn, dưới 50 con/kg, lại có thời điểm giảm giá, khiến người nuôi có thể chịu thiệt dù đã đầu tư nhiều công sức và chi phí để kéo dài thời gian nuôi.

Ông Thừa cho rằng, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân tham gia hợp tác xã, tăng cường liên kết với doanh nghiệp nhằm hình thành chuỗi sản xuất ổn định. Việc đồng hành với các dự án, tuân thủ hướng dẫn của chuyên gia và áp dụng bài bản các quy trình kỹ thuật mới sẽ là một trong những hướng đi giúp ngành nuôi trồng thủy sản nâng cao hiệu quả, an toàn và bền vững hơn.

Tham quan mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh trong hệ thống tuần hoàn kết hợp đa loài (CTU-RAS) tại Cần Thơ. Ảnh: De Heus Việt Nam

Việc nghiên cứu, triển khai mô hình RAS được đặt trong bối cảnh ngành thủy sản Cần Thơ đang giữ vai trò ngày càng quan trọng đối với sản xuất và xuất khẩu của địa phương sau khi thành phố được hợp nhất từ Cần Thơ, Hậu Giang và Sóc Trăng.

Trong 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của thành phố ước đạt 1.615,97 triệu USD, tăng 22,04% so với cùng kỳ, tập trung tại các thị trường mục tiêu như châu Âu, Mỹ và Nhật Bản. Tổng diện tích thả nuôi đạt 83.030 ha, bằng 86% kế hoạch; trong đó diện tích tôm nước lợ đạt 44.428,1 ha, cá tra 824 ha. Tổng sản lượng thu hoạch đạt 490.779,1 tấn.

Tuy nhiên, sản xuất thủy sản vẫn chịu tác động rõ nét của thời tiết và môi trường. Trong 8 tháng, có 189,5 ha tôm, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng, bị thiệt hại do nắng nóng kéo dài xen kẽ mưa lớn. Những biến động này cho thấy, yêu cầu kiểm soát môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn nước và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống nuôi ngày càng trở nên cấp thiết.

Trong khuôn khổ dự án “Tăng cường khả năng chống chịu bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long thông qua phục hồi rừng ngập mặn và giải pháp lai dựa vào thiên nhiên” do IUCN thực hiện, mô hình RAS được triển khai gắn với trồng, bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn. Dự án đặt mục tiêu xây dựng 45 mô hình nuôi thủy sản tuần hoàn, kết hợp trồng, bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục 18 ha rừng trong đê tại tỉnh Cà Mau, khu vực Đông Hải, Hòa Bình và thành phố Cần Thơ, khu vực Vĩnh Châu, Cù Lao Dung.

Theo ông Nguyễn Thanh Phong, đại diện IUCN, điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của dự án là đồng hành và hợp tác với người dân thay vì chỉ tập trung vào hỗ trợ đầu tư. Dự án không tài trợ toàn bộ kinh phí mà hỗ trợ một phần để thiết kế lại hệ thống tuần hoàn, gồm ao nuôi, ao vi sinh, khu vực rừng ngập mặn và hệ thống xử lý nước.

Người dân được khuyến khích tận dụng các trang thiết bị sẵn có, qua đó giảm chi phí đầu tư và tăng tính chủ động khi áp dụng mô hình. Đến tháng 9/2026, dự án đã triển khai 38 mô hình, đạt 85% tiến độ. Tại Cà Mau, 23/23 hộ đã tham gia, hoàn thành 100% kế hoạch với các mô hình kết hợp như tôm – cá – rừng, cua – rừng và tôm – rừng.

Tại Cần Thơ, 15 hộ đã hoàn thành triển khai; 7 hộ thuộc đợt 3 đã được khảo sát và đang hoàn tất thủ tục. Theo kế hoạch, toàn bộ 45 mô hình sẽ hoàn thành lắp đặt thiết bị và vận hành trước tháng 12/2026.

Kết quả từ 7 hộ tham gia đợt đầu cho thấy, mô hình RAS có những tác động tích cực đối với hoạt động nuôi. Theo ông Phong, hệ thống giúp tái sử dụng nguồn nước, cải thiện môi trường và nâng cao năng suất. Tỷ lệ tôm sống tại các mô hình dao động từ 57% đến 98%, sản lượng thu hoạch đạt từ gần 1 tấn đến 10 tấn/hộ. Đáng chú ý, có 6/7 hộ nuôi tôm ghi nhận lợi nhuận ròng từ 1.000 USD đến 26.000 USD/vụ. Đối với mô hình nuôi cua, lợi nhuận thấp hơn, từ 3 triệu đến 18 triệu đồng, song vẫn duy trì được sự ổn định.

Không chỉ là câu chuyện về công nghệ

Tại hội thảo, các đại biểu cũng chỉ ra những thách thức cần được giải quyết nếu muốn nhân rộng mô hình RAS. Chất lượng con giống chưa ổn định, giá bán biến động, sự cố máy móc, nguồn điện và yêu cầu vận hành hệ thống là những vấn đề có thể tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất.

Đặc biệt, thay đổi thói quen canh tác của người dân được xem là một trong những thách thức lớn. RAS đòi hỏi người nuôi phải tuân thủ quy trình kỹ thuật chặt chẽ, theo dõi và xử lý các yếu tố trong hệ thống nuôi thay vì phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm sản xuất truyền thống.

Hệ thống RAS giúp tối ưu hóa quy trình nuôi. Ảnh: HVNNVN

Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ chuyển giao thiết bị mà còn phải chuyển giao kiến thức, kỹ năng và phương thức tổ chức sản xuất. Người nuôi cần được hướng dẫn, đồng hành trong quá trình vận hành để có thể chủ động xử lý các tình huống phát sinh.

Về phía cơ quan quản lý, việc tăng cường vận động nông dân tham gia hợp tác xã, kết nối với doanh nghiệp và xây dựng liên kết chuỗi cũng được xác định là giải pháp quan trọng. Khi người nuôi có sự liên kết về đầu vào, kỹ thuật và đầu ra sản phẩm, khả năng ứng phó với những biến động của thị trường sẽ được cải thiện.

Dự án cũng đặt mục tiêu dài hạn là đo đạc và hướng tới thương mại hóa tín chỉ carbon từ diện tích rừng ngập mặn được bảo vệ. Nếu thực hiện được, đây có thể trở thành nguồn thu nhập bổ trợ cho người dân, đồng thời tạo thêm động lực để duy trì hệ thống sản xuất gắn với bảo vệ hệ sinh thái.

Với 38/45 mô hình đã được triển khai, dự án đang tiến gần đến mục tiêu hoàn thành toàn bộ các mô hình trong năm 2026. Những kết quả bước đầu tại Cần Thơ và Cà Mau là cơ sở để tiếp tục đánh giá tính phù hợp, hiệu quả và khả năng nhân rộng trong điều kiện sản xuất thực tế.

Vũ Hải

 

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài