Tăng tốc triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Sau 6 tháng triển khai, tỷ lệ tàu cá từ 6 m trở lên tham gia Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) trên cả nước mới đạt 60,62%. Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương ven biển khẩn trương rà soát, khắc phục những bất cập, bảo đảm dữ liệu được cập nhật đầy đủ, chính xác, phục vụ công tác chống khai thác IUU.

Chênh lệch lớn về tỷ lệ tàu cá tham gia eCDT

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có văn bản đề nghị UBND các tỉnh, thành phố ven biển tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT), qua đó nâng cao hiệu quả quản lý đội tàu, giám sát sản lượng thủy sản và kiểm soát nguồn gốc sản phẩm khai thác.

Trước đó, ngày 31/12/2025, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT, quy định về ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác thủy sản; kiểm tra tàu cá và giám sát sản lượng thủy sản tại cảng cá; danh sách tàu cá khai thác bất hợp pháp; xác nhận nguyên liệu và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác. Theo quy định tại khoản 5 Điều 22 của Thông tư, Hệ thống eCDT được áp dụng để quản lý tàu cá rời cảng, cập cảng và cấp giấy biên nhận sản phẩm thủy sản khai thác bốc dỡ kể từ ngày 1/3/2026; đồng thời quy định lộ trình thực hiện truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trên Hệ thống eCDT.

Các địa phương ven biển được yêu cầu tăng tốc đẩy nhanh triển khai Hệ thống eCDT. Ảnh: VGP

Tuy nhiên, kết quả triển khai sau 6 tháng cho thấy tiến độ thực hiện tại các địa phương vẫn chưa đồng đều. Tính đến ngày 1/9/2026, cả nước có 48.624 trong tổng số 80.209 tàu cá từ 6 m trở lên tham gia Hệ thống eCDT, tương đương 60,62%. Một số địa phương đã tổ chức triển khai tương đối đồng bộ, với tỷ lệ tàu cá tham gia đạt trên 90%. Trong đó, Nghệ An đạt 97,88%; Quảng Ngãi 96,42%; Ninh Bình 96,13% và Thanh Hóa 94,89%. Thế nhưng, ở chiều ngược lại, tỷ lệ tham gia eCDT tại một số địa phương còn chênh lệch lớn, từ 12,30% đến 97,88%. Điển hình là Tây Ninh đạt chỉ đạt 12,30%; Hà Tĩnh 17,21%; An Giang 22,14%; Vĩnh Long 40,67%; Cà Mau 41,58% và thành phố Huế 46,25%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thực trạng trên phản ánh những hạn chế trong việc tổ chức kiểm soát tàu cá ra, vào cảng cũng như cập nhật thông tin trên Hệ thống eCDT tại một số địa phương chưa đồng bộ. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác và khả năng đối chiếu dữ liệu, từ đó gây khó khăn cho công tác kiểm soát hoạt động khai thác, giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ tại cảng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân

Trước yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và triển khai đồng bộ các giải pháp chống khai thác IUU, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển trực tiếp chỉ đạo rà soát, đối chiếu dữ liệu tàu cá từ 6 m trở lên với thông tin trên Hệ thống eCDT. Các địa phương cần xác định cụ thể những tàu cá chưa tham gia hệ thống, chưa thực hiện đầy đủ thủ tục hoặc chưa cập nhật dữ liệu theo quy định. Trên cơ sở đó, làm rõ nguyên nhân, tổ chức khắc phục và bảo đảm việc kiểm soát tàu cá rời cảng, cập cảng được thực hiện đầy đủ, thống nhất.

Bên cạnh việc hoàn thiện dữ liệu, Bộ cũng yêu cầu các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn và hướng dẫn ngư dân thực hiện đúng quy trình khai báo tàu cá rời cảng, cập cảng, qua trạm kiểm soát biên phòng và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trên Hệ thống eCDT theo đúng quy định tại Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT và Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT ngày 27/8/2026.

Cùng đó, các địa phương cần bố trí đầy đủ nguồn lực phục vụ công tác quản lý, khai thác và cập nhật dữ liệu. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp bốc dỡ sản phẩm thủy sản khai thác không đúng quy định.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu các địa phương tăng cường theo dõi, giám sát và đôn đốc tiến độ triển khai eCDT tại các địa phương, đặc biệt là tại các cảng cá. Đối với những nơi triển khai chậm, không đầy đủ hoặc không đáp ứng yêu cầu, cần tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Những bất cập phát sinh phải được kịp thời chấn chỉnh, khắc phục; trường hợp vi phạm cần được xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định.

Bên cạnh yêu cầu hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương gắn nhiệm vụ này với việc rà soát, đầu tư và nâng cấp hệ thống cảng cá theo quy hoạch được phê duyệt.

Cụ thể, căn cứ Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 3/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, các địa phương cần rà soát, xây dựng và phê duyệt quy hoạch chi tiết đối với những cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão đã được xác định trong quy hoạch.

Đồng thời, ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư, nâng cấp cảng cá nhằm đáp ứng các tiêu chí theo quy định tại Thông tư số 02/2026/TT-BNNMT và Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-BNNMT ngày 28/8/2026, quy định về đăng kiểm viên tàu cá; bảo đảm an toàn kỹ thuật; đăng ký, xóa đăng ký tàu cá, tàu công vụ thủy sản, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản; treo cờ và đánh dấu tàu cá, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản; nhập khẩu tàu cá; phân loại cảng cá; công bố mở, đóng cảng cá, để công bố mở mới hoặc công bố mở lại các cảng cá theo quy hoạch chi tiết từng cảng đã được phê duyệt, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất, nhập bến và bốc dỡ sản phẩm thủy sản của ngư dân.

Theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND các tỉnh, thành phố ven biển cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nêu trên và báo cáo kết quả về Bộ trước ngày 5 hằng tháng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Phạm Thu

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài