Tăng hỗ trợ, mở rộng đối tượng và rủi ro bảo hiểm trong sản xuất nông nghiệp

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 346/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp. Trong đó có nâng mức hỗ trợ đối với hộ nghèo, cận nghèo và bổ sung, làm rõ các rủi ro được bảo hiểm.

Theo Nghị định 346/2026/NĐ-CP, chính sách bảo hiểm nông nghiệp được điều chỉnh theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, tạo thêm lựa chọn cho người sản xuất và doanh nghiệp bảo hiểm. Cụ thể, các loại hình sản phẩm được quy định gồm bảo hiểm rủi ro định danh, bảo hiểm mọi rủi ro, bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập, bảo hiểm theo chỉ số năng suất, bảo hiểm theo chỉ số thời tiết và bảo hiểm theo chỉ số viễn thám. Ngoài ra, các bên còn có thể thỏa thuận về những loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp khác trong hợp đồng bảo hiểm.

Với các sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể lựa chọn nguồn cung cấp dữ liệu từ nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau.

Trong đó, các nguồn được quy định gồm Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia trực thuộc Cục Khí tượng Thủy văn; Hệ thống Thông tin dịch vụ khí hậu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO); Trung tâm Giám sát nông nghiệp, tài nguyên và môi trường thuộc Cục Viễn thám quốc gia. Các nguồn dữ liệu khác cũng có thể được sử dụng nếu bảo đảm độ tin cậy, được nhà tái bảo hiểm quốc tế xác nhận hoặc chấp thuận và được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm.

Ảnh minh họa. Ảnh: ST

Nghị định 346 cũng điều chỉnh mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp theo từng nhóm đối tượng. Theo đó, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm.

Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ tối đa là 30% phí bảo hiểm nông nghiệp. Tuy nhiên, để được hưởng chính sách này, doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Trong đó, tổ chức có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm, đồng thời đáp ứng các quy định về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Một trường hợp khác là sản phẩm nông nghiệp của tổ chức phải được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận về chất lượng, an toàn thực phẩm; hoặc doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao; hoặc có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hay văn bản xác nhận của Ban quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định.

Nghị định 346/2026/NĐ-CP cũng bổ sung quy định về các đối tượng bảo hiểm khác, trong đó có nuôi trồng thủy sản, cùng với cây trồng, vật nuôi, cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương công bố.

Về rủi ro thiên tai, Nghị định mới quy định nhóm bảo hiểm rộng, gồm bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các rủi ro thiên tai khác theo quy định pháp luật về phòng, chống thiên tai.

Đối với rủi ro dịch bệnh, chính sách được quy định cho động vật trên cạn, động vật thủy sản và dịch hại thực vật. Riêng đối với thủy sản, các bệnh thuộc danh mục bệnh phải công bố dịch do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo pháp luật về thú y được xác định là rủi ro thuộc phạm vi quy định.

Một thay đổi khác trong chính sách bảo hiểm nông nghiệp là phạm vi địa bàn được hỗ trợ. Theo Nghị định 346, căn cứ chiến lược, kế hoạch phát triển của ngành nông nghiệp và chiến lược, kế hoạch phát triển đặc thù của từng địa phương, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể triển khai chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp trên toàn bộ địa bàn hoặc tại một số địa bàn cấp xã. Quy định này tạo dư địa để các địa phương chủ động xác định phạm vi triển khai phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm rủi ro và định hướng phát triển nông nghiệp của mình.

Ngoài ra, Nghị định 346 cũng sửa đổi quy trình chi trả phí bảo hiểm nông nghiệp được ngân sách nhà nước hỗ trợ. Cụ thể, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ khi kết thúc tháng, doanh nghiệp bảo hiểm phải lập hồ sơ đề nghị chi trả phần phí bảo hiểm được ngân sách hỗ trợ và gửi đến Sở Nông nghiệp và Môi trường cấp tỉnh bằng hình thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến khi đủ điều kiện.

Trong vòng 7 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính thẩm định, trình UBND cấp tỉnh ban hành quyết định chi trả. Nếu từ chối, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Sau khi UBND cấp tỉnh ban hành quyết định chi trả, trong thời hạn 7 ngày làm việc, Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chi trả cho doanh nghiệp bảo hiểm qua Kho bạc Nhà nước khu vực; khoản tiền sau đó được chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp bảo hiểm tại ngân hàng thương mại.

Nghị định số 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/10/2026. Đối với các hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp đã giao kết trước thời điểm nghị định có hiệu lực và vẫn còn thời hạn, các bên tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận sửa đổi, bổ sung để thực hiện theo quy định mới.

Hồng Hà

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài