(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành văn bản hợp nhất Thông tư số 80/2026, quy định cụ thể việc ghi, nộp nhật ký khai thác, kiểm tra tàu cá, giám sát sản lượng tại cảng cá và xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
Kiểm soát chặt chẽ tàu cá khai thác
Một trong những nội dung trọng tâm của văn bản hợp nhất này là việc chuẩn hóa trách nhiệm ghi và nộp nhật ký, báo cáo khai thác thủy sản theo từng nhóm tàu. Theo quy định, thuyền trưởng tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản có chiều dài lớn nhất từ 12 m trở lên phải ghi nhật ký khai thác hằng ngày và nộp cho tổ chức quản lý cảng cá trước thời điểm bốc dỡ thủy sản. Nhật ký có thể được thực hiện bằng bản giấy có chữ ký của thuyền trưởng hoặc dưới dạng điện tử, có mã định danh theo từng tàu và số thứ tự chuyến biển được cập nhật tự động.
Đối với tàu có chiều dài từ 6 m đến dưới 12 m, thuyền trưởng phải thực hiện báo cáo khai thác theo định kỳ một tuần một lần và nộp cho tổ chức quản lý cảng cá. Trong khi đó, chủ tàu có chiều dài dưới 6 m cũng phải thực hiện trách nhiệm báo cáo nếu trong quá trình khai thác bắt gặp hoặc khai thác không chủ ý các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm. Báo cáo được gửi cho chính quyền cấp xã khi phát sinh trường hợp.
Đối với tàu hậu cần nghề cá, thuyền trưởng tàu thu mua, chuyển tải thủy sản phải ghi nhật ký hằng ngày và nộp cho tổ chức quản lý cảng cá trước khi bốc dỡ. Với tàu thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ nguồn lợi thủy sản, báo cáo phải được gửi trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tàu cập cảng.
Kiểm soát chặt chẽ tàu cá ngay tại cảng. Ảnh: VGP
Một điểm nhấn trong Thông tư mới của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ chế kiểm soát tàu cá ngay tại cảng được quy định chặt chẽ hơn. Cụ thể, khi thuyền trưởng đề nghị cập cảng, tổ chức quản lý cảng cá phải đối chiếu tàu với danh sách tàu cá khai thác thủy sản bất hợp pháp và danh sách tàu cá có nguy cơ cao vi phạm IUU.
Nếu tàu nằm trong danh sách tàu cá khai thác thủy sản bất hợp pháp, cảng cá không được cho bốc dỡ thủy sản và phải thông báo cho cơ quan chức năng xử lý. Đối với tàu thuộc nhóm có nguy cơ cao vi phạm IUU, tàu vẫn được bố trí cập cảng nhưng cảng cá phải thông báo cho cơ quan chức năng để kiểm tra, xử lý theo quy định. Do vậy, chỉ những tàu không thuộc hai nhóm trên mới được bố trí cập cảng bốc dỡ bình thường và được cán bộ giám sát sản lượng, thành phần loài thủy sản bốc dỡ qua cảng.
Thêm vào đó, nếu tổng sản lượng thủy sản bốc dỡ thực tế sai lệch 20% so với sản lượng khai báo trước khi cập cảng, cơ quan quản lý phải lập biên bản và xử lý theo thẩm quyền hoặc bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Tăng tỷ lệ kiểm tra đối với những nhóm tàu có nguy cơ
Theo quy định, tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 m trở lên đều thuộc diện kiểm tra. Với tàu dưới 24 m, tỷ lệ kiểm tra tối thiểu được xác định theo nghề khai thác, trong đó, 20% đối với tàu làm nghề khai thác cá ngừ, 10% đối với tàu làm nghề lưới kéo và 5% đối với các nghề khác trên tổng số tàu cập cảng bốc dỡ trong tháng. Ngoài ra, những tàu có dấu hiệu vi phạm quy định về khai thác IUU cũng thuộc diện kiểm tra.
Trong quá trình kiểm tra, cơ quan chức năng sẽ đối chiếu thông tin trong nhật ký khai thác hoặc nhật ký thu mua, chuyển tải với sản lượng, thành phần loài thủy sản thực tế trên tàu; đồng thời kiểm tra thông tin đăng ký tàu với danh sách tàu cá IUU do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố.
Đối với tàu cá rời cảng, ngoài hồ sơ như giấy đăng ký tàu, giấy phép khai thác, giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật, nhật ký khai thác, cơ quan chức năng có thể kiểm tra trực tiếp trang thiết bị hàng hải, thiết bị cứu sinh, cứu hỏa, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị giám sát hành trình, ngư cụ, thuyền viên và việc đánh dấu tàu cá.
Quy định mới tiếp tục xác định rõ các trường hợp tàu cá bị đưa vào danh sách khai thác IUU. Trong đó bao gồm tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài bắt giữ, thông báo cho phía Việt Nam; tàu cá bị bắt giữ nhưng được trả về hoặc bị cơ quan Việt Nam xử phạt về hành vi khai thác trái phép tại vùng biển quốc gia, vùng lãnh thổ khác mà chưa thi hành xong quyết định xử phạt.
Cùng đó, tàu cá cũng có thể bị đưa vào danh sách nếu bị xử phạt về các hành vi như khai thác tại vùng biển nước ngoài hoặc vùng biển thuộc quyền quản lý của tổ chức nghề cá khu vực mà không có giấy phép, giấy phép hết hạn; không ghi nhật ký hoặc ghi không chính xác theo yêu cầu; báo cáo sai nghiêm trọng; hoặc khai thác không đúng quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển quốc tế.
Ngược lại, tàu có thể được đưa ra khỏi danh sách khi đã thi hành xong quyết định xử phạt, đã xóa đăng ký theo quy định hoặc có bằng chứng chứng minh không vi phạm.
Không chỉ tàu IUU, tàu có nguy cơ cao cũng bị giám sát. Nhóm này bao gồm tàu không có giấy phép khai thác; tàu có giấy phép hết hạn từ 10 ngày trở lên nhưng không đi khai thác; tàu không duy trì tín hiệu giám sát hành trình khi hoạt động trên biển từ 6 giờ trở lên mà không báo cáo vị trí theo quy định; tàu vi phạm khu vực cấm khai thác hoặc vùng khai thác; và tàu vi phạm vùng biển nước ngoài nhưng chưa bị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài bắt giữ.
Những tàu này chỉ được đưa ra khỏi danh sách nguy cơ cao sau khi khắc phục vi phạm hoặc đã bị xử phạt hành chính đối với các hành vi thuộc diện quy định.
Siết truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác
Theo quy định tại Thông tư 80/2026, tổ chức quản lý cảng cá được chỉ định có trách nhiệm xác nhận nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác trong nước về khối lượng, thành phần loài, vùng và thời gian khai thác đối với thủy sản được bốc dỡ tại cảng khi có yêu cầu.

Siết chặt quản lý đối với thủy sản có nguồn gốc khai thác. Ảnh: ST
Cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh thực hiện chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác trong nước không vi phạm quy định về khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Trong vòng 1 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, tổ chức quản lý cảng cá phải thẩm định thông tin về khối lượng, thành phần loài, vùng và thời gian khai thác, đối chiếu với dữ liệu tàu cập cảng và hệ thống giám sát tàu cá để cấp giấy xác nhận hoặc trả lời bằng văn bản nếu không đủ điều kiện xác nhận.
Đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, thẩm định trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ. Đối với sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu, hồ sơ còn phải đáp ứng các mẫu chứng nhận và thông tin bổ sung theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu hoặc tổ chức nghề cá khu vực.
Một điểm đáng chú ý trong Thông tư 80 này là việc truy xuất không dừng ở thời điểm thủy sản được bốc dỡ khỏi tàu. Theo đó, đối với sản phẩm chế biến để xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền phải đối chiếu nguồn nguyên liệu với thông tin về tàu cá, quốc gia mang cờ, khối lượng và chủng loại thủy sản; đồng thời kiểm tra nguồn nguyên liệu nhập khẩu nếu có.
Với nguyên liệu khai thác trong nước, thông tin phải được đối chiếu với giấy xác nhận nguyên liệu do tổ chức quản lý cảng cá cấp và giấy chứng nhận nguồn gốc do cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh cấp.
Cơ quan chức năng cũng kiểm tra khối lượng, chủng loại nguyên liệu với hồ sơ sản xuất, chế biến, dữ liệu theo dõi trừ lùi, định mức sản phẩm và mức độ đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Trong trường hợp có nghi ngờ, việc kiểm tra tại hiện trường có thể được thực hiện trước khi xác nhận hoặc chứng nhận lô hàng.
Nếu phát hiện vi phạm, cơ quan chức năng xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Những cảng cá không thực hiện đúng quy định về xác nhận nguyên liệu, dẫn đến lô hàng bị trả về hoặc vi phạm có tính hệ thống trong quy trình thẩm định có thể bị kiến nghị đưa ra khỏi danh sách cảng cá được chỉ định.
Về lâu dài, Cục Thủy sản và Kiểm ngư được giao xây dựng phần mềm truy xuất nguồn gốc thủy sản và quy chế quản lý, sử dụng phần mềm để truy xuất nguồn gốc thủy sản bằng điện tử thống nhất trên toàn quốc. Cục đồng thời có trách nhiệm đăng tải danh sách tàu cá IUU, danh sách tàu cá nguy cơ cao vi phạm IUU và tổng hợp kết quả thực hiện xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
Phạm Thu