Mối lo khủng hoảng nguồn cung nguyên liệu biển toàn cầu và những đáp án mới

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Hiện tượng El Nino đã tác động sâu sắc tới sản lượng đánh bắt ở các quốc gia cung ứng lượng cá cơm chủ yếu để sản xuất bột cá và dầu cá. Thức ăn thủy sản đang đối diện sức ép nguồn cung khắc nghiệt.

Peru kết thúc mùa cá cơm đầu tiên, Chile đạt sản lượng thấp

Ngày 19/8/2026, Bộ sản xuất Peru đã thông báo quyết định kết thúc mùa khai thác cá cơm đầu tiên trong năm tại vùng biển phía Bắc và Trung nước này. Sản lượng cá cơm đánh bắt đạt khoảng 460.000 tấn, chỉ đạt khoảng 26% trên hạn ngạch khai thác 1,91 triệu tấn của năm 2026.

So sánh với năm 2025, mức sụt giảm càng trở nên rõ rệt. Mùa cá cơm đầu tiên trong năm 2025 ở khu vực này của Peru kết thúc vào ngày 24/7/2025, với sản lượng đạt hơn 2,45 triệu tấn.

Nguyên nhân được cho là trong năm 2026, hiện tượng El Nino khiến nước biển ấm hơn, khiến sản lượng giảm mạnh. Viện Nghiên cứu Biển Peru ghi nhận mức nhiệt tại một số vùng biển ở nước này cao hơn thông thường tới 6 độ C.

Để bảo vệ nguồn lợi cá cơm, từ tháng 4/2026, hoạt động đánh bắt đã nhiều lần bị đình chỉ. Nhiều tàu đánh bắt công nghiệp không ra khơi kể từ tháng 5/2026.

Theo FishingDaily, với khả năng EL Nino sẽ tăng cường và kéo dài tới đầu năm 2027, hoạt động khai thác có thể sẽ tiếp tục kém hiệu quả. Bộ Sản xuất Peru đã cho phép triển khai cuộc khảo sát quy mô lớn nhằm xác định mật độ, phạm vi phân bố và khả năng khai thác của cá cơm. Kết quả khảo sát là cơ sở cho việc đưa ra các quyết định về dỡ bỏ lệnh cấm hoàn toàn, từng phần hoặc theo từng giai đoạn với cá cơm.

Tại Chile, sản lượng khai thác cá cơm cũng đang sụt giảm đáng kể. Theo WorldFishing, Sản lượng đánh bắt trong giai đoạn đầu năm 2026 thấp hơn nhiều so mức ghi nhận cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ cá non cao là lý do khiến hoạt động khai thác tiếp tục bị hạn chế.

Diễn biến lạ tại thị trường Trung Quốc

Theo Hiệp hội Công nghiệp Thức ăn chăn nuôi Trung Quốc, sản lượng thức ăn thủy sản của nước này trong nửa đầu năm 2026 đạt 11,1 triệu tấn, tăng 17,4% so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ khoảng 29,9 triệu tấn lên 31,1 triệu tấn.

Đáng chú ý, tiêu thụ bột cá của ngành nuôi trồng Trung Quốc trong cùng thời gian lại giảm nhẹ so với năm trước. Các chuyên gia đoán định, diễn biến này cho thấy các doanh nghiệp thức ăn có thể đang giảm tỷ lệ bột cá, điều chỉnh công thức hoặc tăng sử dụng các nguồn protein khác để ứng phó với giá cao.

Dự trữ bột cá Trung Quốc cũng giảm, một trong những nguyên nhân khiến quốc gia này tăng cường tìm các nguồn cung ứng thay thế. Trong tháng 6/2026, Trung Quốc nhập 25.494 tấn bột cá từ Việt Nam, tăng 55,7% so với cùng kỳ và đưa Việt Nam trở thành nguồn cung bột cá lớn nhất cho Trung Quốc trong tháng. Nhập khẩu từ Ấn Độ cũng tăng 28,5%, lên 16.381 tấn. Theo các chuyên gia, đối với thị trường Trung Quốc, sản lượng nội địa sẽ hỗ trợ thị trường, đặc biệt mùa đánh bắt bắt đầu vào tháng 8 và tháng 9/2026.

Tổ chức Bột cá và Dầu cá Thế giới dự đoán, triển vọng cả năm sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào sản xuất trong nửa cuối năm 2026. Sản lượng từ các nhà sản xuất lớn như Morocco, Trung Quốc, Ấn Độ và Oman sẽ quyết định khả năng bù đắp thiếu hụt nguồn cung ở các quốc gia khác. Tổ chức này ước tính rằng mức tiêu thụ bột cá cho sản xuất thức ăn thủy sản năm 2026 chỉ có thể thấp hơn một chút so với năm 2025.

Dinh dưỡng chính xác tạo khác biệt vĩ mô

Cung cấp dinh dưỡng vừa đủ cho từng giai đoạn phát triển của cá đang được coi là một trong những giải pháp vượt qua thách thức về thiếu hụt nguyên liệu biển cho ngành nuôi trồng thủy sản.

Sparos, một doanh nghiệp thức ăn thủy sản Bồ Đào Nha thành lập từ năm 2008 đã bền bỉ nghiên cứu về chế độ ăn trong nuôi trồng thủy sản, trong đó có giải pháp dinh dưỡng vi mô cho cá bột và cá giống.

TS Luis Conceição, nhà đồng sáng lập của Sparos giải thích, cá mới sinh có kích cỡ từ 2-3 mm. Vì thế, thức ăn cho chúng phải nhỏ hơn 1mm, một số loại chỉ ở khoảng 100-300 micromet, tức là nhỏ như đầu của một chiếc kim.

Thức ăn hạt siêu nhỏ phải được phối trộn với công thức chính xác, phù hợp với kích cỡ miệng cá theo mm, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng nhưng vẫn hấp dẫn với cá.

Tuy nhiên, để tạo ra các công thức thức ăn hạt siêu nhỏ này không phải là một việc đơn giản. Đầu tiên, phải xác định được chính xác nhu cầu dinh dưỡng của cá nuôi trong từng giai đoạn sinh trưởng.

Thứ hai, tìm kiếm nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng này, mà vẫn đảm bảo sự hấp dẫn, khả năng hấp thụ của từng loại cá.

Cuối cùng là đảm bảo hạt thức ăn giữ được hình dạng và hàm lượng dinh dưỡng, tránh tình trạng dưỡng chất bị hòa tan quá nhiều vào môi trường nước.

Tại Hội nghị TARS 2026, dinh dưỡng chính xác cũng là một trong những vấn đề được đưa ra thảo luận.

Theo đó, hiệu quả thức ăn không nên chỉ được đánh giá bằng giá bán trên mỗi kilogram, mà bằng chi phí thức ăn thấp nhất trên mỗi kilogram tăng trọng. Đối với thức ăn cho thủy sản, một loại thức ăn có giá cao hơn vẫn có thể mang lại hiệu quả tốt hơn nếu giảm hệ số chuyển đổi, cải thiện tỷ lệ sống hoặc rút ngắn thời gian nuôi.

Bên cạnh đó, công nghệ chế biến, hệ thống cho ăn thông minh, giám sát và điều chỉnh bằng AI… sẽ giúp cung cấp dinh dưỡng chính xác theo từng loài, từng giai đoạn sinh trưởng và môi trường nuôi.

Hạnh Nguyên

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài