Bảo đảm dòng vốn phù hợp cho thu mua, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu bảo đảm dòng vốn phù hợp cho thu mua, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, đồng thời chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về nguyên liệu, logistics, thị trường và tiêu chuẩn, tạo điều kiện để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, nâng cao giá trị xuất khẩu.

Theo Thông báo của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với một số hiệp hội và doanh nghiệp xuất khẩu tiêu biểu ngành hàng nông, lâm, thủy sản, 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này ước đạt khoảng 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ và đạt khoảng 75,9% mục tiêu kế hoạch năm 2026. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 39,4 tỷ USD, tăng 8%, đưa thặng dư thương mại lên khoảng 16,9 tỷ USD.

Để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026, từ nay đến cuối năm, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cần đạt khoảng 17,91 tỷ USD, bình quân gần 6 tỷ USD mỗi tháng. Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị xuất khẩu cả năm có thể đạt và vượt chỉ tiêu 74,2 tỷ USD.

Tuy nhiên, ngành hàng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng cao về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc. Cùng đó, tính mùa vụ của nguồn hàng cũng tiềm ẩn nguy cơ dồn cung, dẫn đến tình trạng được mùa, rớt giá, nhất là khi hoạt động xuất khẩu gặp ách tắc.

Mặt khác, chi phí nguyên liệu đầu vào và logistics của ngành hàng này còn cao; các rào cản kỹ thuật ngày càng chặt chẽ, nguy cơ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại gia tăng. Bên cạnh đó, liên kết giữa vùng nguyên liệu và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, trong khi cơ cấu xuất khẩu vẫn thiên về sản phẩm thô, tỷ lệ chế biến sâu chưa cao. Trong khi chất lượng, thương hiệu và các sản phẩm có giá trị gia tăng của nông, lâm, thủy sản chưa được khai thác tương xứng.

9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt khoảng 56,3 tỷ USD. Nguồn: VGP

Trước thực tế này, Chính phủ xác định phát triển xuất khẩu nông, lâm, thủy sản không chỉ nhằm tăng kim ngạch mà phải gắn với tái cơ cấu toàn diện ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, sinh thái, giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Tăng trưởng cần chuyển từ dựa vào sản lượng sang dựa vào chất lượng, chế biến sâu, thương hiệu, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, mô hình sản xuất cũng cần chuyển từ “sản xuất – thu mua – xuất khẩu” sang chuỗi giá trị khép kín hơn, bắt đầu từ nghiên cứu thị trường, tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát giống và đầu vào, tiêu chuẩn hóa sản xuất đến chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, phân phối quốc tế và duy trì, mở rộng thị phần. Trong chuỗi này, doanh nghiệp được xác định là trung tâm tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ; hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất, nông dân là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi.

Một định hướng khác là chuyển từ quản lý theo từng lĩnh vực sang quản trị theo chuỗi giá trị và từng ngành hàng, lấy hiệu quả xuất khẩu, năng lực cạnh tranh và thu nhập của người sản xuất làm thước đo. Phương thức điều hành cũng được yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính sang dựa trên dữ liệu số, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu quốc gia về sản xuất, chế biến, logistics và thị trường để phục vụ dự báo và điều hành. Mục tiêu được đặt ra là đến năm 2030, giá trị xuất khẩu ngành hàng nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD.

Những tháng cuối năm 2026, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp theo dõi sát từng thị trường, từng mặt hàng, nắm chắc đơn hàng, giá cả, chi phí và khả năng giao hàng để chủ động ứng phó. Trong đó, việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp được xác định là nhiệm vụ ưu tiên, không để kiến nghị kéo dài, đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện cho năm 2027.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chủ động theo dõi tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu các ngành hàng chủ lực. Khi có biến động lớn về thị trường, giá, chính sách nhập khẩu hoặc đơn hàng, phải có cảnh báo sớm và đề xuất xử lý ngay, tránh để doanh nghiệp bị động. Cùng với đó là rà soát từng ngành hàng để xác định nguồn nguyên liệu có thể chủ động trong nước và nguồn cần nhập khẩu ổn định, bảo đảm không xảy ra tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến trong khi sản phẩm đầu ra lại mất thị trường.

Thêm vào đó, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh chuẩn hóa, số hóa và kết nối dữ liệu về vùng nguyên liệu, vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu; tiếp tục đàm phán mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và nâng cao năng lực cảnh báo sớm. Coi chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện bắt buộc để giữ thị trường.

Bộ Công Thương được giao theo dõi chính sách thương mại, phòng vệ thương mại và thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo từng sản phẩm, từng thị trường và nhóm doanh nghiệp có khả năng đáp ứng. Cùng với giữ vững các thị trường truyền thống, cần giảm rủi ro phụ thuộc vào một thị trường đối với những ngành hàng có mức tập trung cao.

Với Bộ Tài chính, Phó Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục rà soát, xử lý các vấn đề về thuế, phí, thủ tục và kiểm tra hải quan, đẩy mạnh số hóa và tạo thuận lợi thương mại. Bộ Xây dựng và các địa phương chủ động xử lý điểm nghẽn về vận tải, cảng, kho lạnh, bảo quản và logistics, nhất là đối với hàng hóa mùa vụ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục chỉ đạo bảo đảm dòng vốn phù hợp cho thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Đối với doanh nghiệp, hiệp hội và VCCI, Phó Thủ tướng yêu cầu chủ động điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, nâng chất lượng hợp đồng, liên kết ổn định với vùng nguyên liệu, cạnh tranh bằng chất lượng, hiệu quả và uy tín. Doanh nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy tăng lượng sang tăng giá trị, nâng cao năng lực quản trị, chất lượng, truy xuất, thương hiệu và khả năng đáp ứng thị trường; đồng thời chủ động cung cấp thông tin về đơn hàng, cung – cầu, giá cả, cơ chế, chính sách, cơ hội và rủi ro để cùng các cơ quan quản lý xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh.

Phạm Thu

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài