Giám sát khả năng thích ứng biến đổi khí hậu trong lĩnh vực thủy sản

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định các chỉ số giám sát, đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực thủy sản, tập trung vào phát triển giống mới có khả năng chống chịu, mở rộng diện tích nuôi áp dụng giải pháp thích ứng và thúc đẩy các mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản bền vững.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 42/2026/TT-BNNMT quy định kỹ thuật giám sát, đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Trong lĩnh vực thủy sản, Thông tư xác định các chỉ số trọng tâm nhằm theo dõi khả năng chống chịu, năng lực thích ứng trước những tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu.

Theo quy định, các chỉ số về tăng cường khả năng chống chịu và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực thủy sản bao gồm: số lượng và chủng loại giống thủy sản mới được chọn tạo có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; diện tích nuôi trồng thủy sản áp dụng các giải pháp thích ứng; diện tích chuyển đổi từ loại hình sản xuất nông nghiệp khác sang nuôi trồng thủy sản do xâm nhập mặn; số tổ đồng quản lý tham gia áp dụng mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đối với chỉ số về giống thủy sản mới, Thông tư quy định đối tượng thống kê là các giống được công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo Điều 28 Luật Thủy sản, có khả năng kháng bệnh, có ngưỡng sinh thái rộng hoặc chịu được các điều kiện bất lợi như nắng nóng, rét, hạn hán, xâm nhập mặn và là giống lần đầu tiên được chọn tạo trong năm báo cáo.

Tăng cường diện tích nuôi trồng thủy sản áp dụng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: ST

Cơ quan thực hiện sẽ thu thập thông tin về số lượng, chủng loại giống mới, quy mô áp dụng theo từng loại và những đặc tính thích ứng nổi bật. Đồng thời, việc khảo sát thực địa tại các cơ sở, hộ nuôi giúp xác định các giống đang được nuôi thử nghiệm hoặc nuôi phổ biến lần đầu trong năm báo cáo.

Thông tin sau thu thập được tổng hợp vào bảng thống kê, phân loại theo từng loại thủy sản như tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, tôm sú và các đối tượng khác. Trường hợp một giống có nhiều đặc tính thích ứng, quy mô áp dụng chỉ được thống kê một lần theo đặc tính nổi trội hoặc mục đích áp dụng chủ yếu trong năm báo cáo, nhằm tránh trùng lặp số liệu.

Một chỉ số quan trọng được quy định theo Thông tư này là diện tích nuôi trồng thủy sản áp dụng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu. Đối tượng thống kê bao gồm diện tích nuôi tôm, cá, rau câu, nhuyễn thể và các đối tượng thủy sản khác có áp dụng ít nhất một giải pháp thích ứng phù hợp. Trong đó có mô hình nuôi trồng thủy sản hỗn hợp đa loài, đa tầng (IAQ); nuôi trồng thủy sản an toàn sinh học (BSS); mô hình nuôi kết hợp như tôm – lúa; hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS); sử dụng chế phẩm sinh học và các giải pháp khác.

Đối với nuôi biển, các giải pháp thích ứng bao gồm sử dụng lồng bè HDPE, ứng dụng công nghệ cao và những phương thức nuôi phù hợp với điều kiện môi trường. Bên cạnh diện tích nuôi trực tiếp, quy định cũng đề cập đến diện tích hoặc quy mô khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, rạn nhân tạo phục vụ tái tạo nguồn lợi, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc xác định diện tích được thực hiện thông qua thu thập thông tin và khảo sát thực địa tại các cơ sở, hộ nuôi trên địa bàn. Số liệu được tổng hợp theo diện tích áp dụng các giải pháp kỹ thuật, quản lý ao nuôi, điều tiết nước và những biện pháp thích ứng khác trong năm báo cáo. Cơ quan thực hiện cũng thu thập thông tin về diện tích đã áp dụng giải pháp tính từ thời điểm triển khai tại cơ sở hoặc hộ nuôi.

Kết quả thống kê được phân tổ theo loại thủy sản nuôi trồng, trong đó có tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, tôm sú và các đối tượng khác. Nguồn số liệu chủ yếu là điều tra, thu thập tại thực địa; việc thực hiện được tiến hành hằng năm.

Hai chỉ số nữa là diện tích chuyển đổi từ loại hình sản xuất nông nghiệp khác sang nuôi trồng thủy sản do xâm nhập mặn và số tổ đồng quản lý tham gia áp dụng mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thông tư yêu cầu thông tin, số liệu giám sát và đánh giá phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, nhất quán, cập nhật, rõ nguồn gốc, đồng thời phản ánh trực tiếp tiến độ và kết quả triển khai các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu. Quy trình kỹ thuật gồm bốn bước là: Xây dựng kế hoạch giám sát, đánh giá; thu thập và xử lý thông tin, số liệu, lập biểu mẫu; phân tích, đánh giá kết quả; xây dựng và hoàn thiện báo cáo. Kết quả sau đó được cập nhật trên Hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trực tuyến.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao cho các đơn vị trực thuộc Bộ cùng UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phổ biến và tổ chức thực hiện các nội dung của Thông tư. Cục Biến đổi khí hậu chịu trách nhiệm quản lý, vận hành hệ thống báo cáo trực tuyến; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai; tổ chức giám sát, đánh giá trong phạm vi quản lý và tổng hợp báo cáo phục vụ công tác quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu.

Phạm Thu

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài