(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có Văn bản số 11812/BNNMT-TSKN gửi Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá, đề nghị tập trung triển khai các giải pháp tăng cường quản lý đội tàu, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác.
Văn bản được ban hành nhằm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 10/4/2024 của Ban Bí thư, Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 22/4/2024 của Chính phủ, Công điện số 34/CĐ-TTg ngày 25/4/2026 và Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) sau đợt thanh tra lần thứ năm về chống vi phạm IUU.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các tỉnh, thành phố ven biển rà soát, đối chiếu thông tin tàu cá giữa hồ sơ quản lý tại địa phương và cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase). Các thông tin về đăng ký, đăng kiểm đối với tàu thuộc diện phải đăng kiểm, giấy phép khai thác thủy sản, thiết bị giám sát hành trình (VMS) và tình trạng hoạt động của từng tàu phải được cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác.
Trên cơ sở đó, các địa phương phải phân loại rõ tàu cá đủ điều kiện hoạt động, tàu chưa đủ điều kiện, tàu không còn hoạt động, tàu đã xóa đăng ký và các trường hợp khác cần quản lý theo quy định. Việc phân loại phải gắn với tình trạng pháp lý và thực tế của từng phương tiện, làm cơ sở xác định biện pháp quản lý phù hợp.
Đối với tàu cá chưa được cấp giấy phép khai thác thủy sản, tàu có giấy phép hết hạn hoặc thông tin giấy phép chưa thống nhất với hồ sơ quản lý, các địa phương phải khẩn trương rà soát, phân loại và hướng dẫn chủ tàu hoàn thiện hồ sơ. Việc giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy phép khai thác thủy sản phải bảo đảm đúng thành phần hồ sơ, trình tự, điều kiện và thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số 41/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan; không tự đặt thêm thủ tục, giấy tờ hoặc điều kiện ngoài quy định. Riêng các tàu không đáp ứng điều kiện cấp giấy phép khai thác thủy sản phải được tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ, không để tiếp tục hoạt động khai thác trái quy định.

Tập trung xác minh trường hợp có dấu hiệu bất thường về nguồn gốc thủy sản. Ảnh: TTXVN
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu các địa phương lập danh sách, quản lý chặt nhóm tàu có nguy cơ cao vi phạm khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), tàu chưa đăng ký, chưa được cấp phép và các phương tiện thuộc diện phải theo dõi, kiểm soát.
Với từng tàu, cơ quan chức năng phải phân công cụ thể đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm theo dõi; xác định rõ tình trạng pháp lý, chủ tàu, vị trí neo đậu và biện pháp quản lý tương ứng. Đối với tàu cá “ba không” (không đăng ký, không đăng kiểm đối với tàu thuộc diện phải đăng kiểm và không có giấy phép khai thác thủy sản), các địa phương phải xác định rõ hiện trạng, nguyên nhân chưa đáp ứng điều kiện và biện pháp quản lý, xử lý phù hợp với quy định pháp luật, không để tàu không đủ điều kiện tiếp tục khai thác thủy sản trái quy định.
Cùng với quản lý đội tàu, Bộ cũng yêu cầu thực hiện nghiêm việc kê khai, tiếp nhận và cập nhật thông tin tàu cá rời cảng, cập cảng cùng các thông tin liên quan trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) theo quy định pháp luật. Các địa phương phải thường xuyên đối chiếu dữ liệu eCDT với hồ sơ tại cảng cá, thông tin quản lý tàu cá và kết quả kiểm soát của các lực lượng chức năng. Những trường hợp thiếu dữ liệu, sai lệch, trùng lặp hoặc thông tin chưa thống nhất phải được xác minh, xử lý hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý kịp thời.
Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát sản lượng thủy sản thực tế bốc dỡ qua cảng. Sản lượng ghi nhận cần được đối chiếu với nhật ký khai thác, dữ liệu kiểm soát tàu cá ra, vào cảng, thông tin VMS và dữ liệu trên hệ thống eCDT. Việc cấp giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác và giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác phải bảo đảm đúng điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo Văn bản hợp nhất số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT. Các trường hợp có dấu hiệu bất thường về thời gian, hành trình khai thác, loài thủy sản, sản lượng, địa điểm bốc dỡ hoặc có sự khác biệt giữa thực tế, hồ sơ và dữ liệu liên quan phải được tập trung kiểm tra, xác minh.
Ngoài ra, theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương phải rà soát, phân loại chính xác tình trạng lắp đặt và hoạt động của thiết bị VMS đối với từng tàu thuộc diện phải lắp đặt theo quy định. Những trường hợp chưa lắp đặt, thiết bị hư hỏng, mất kết nối, không duy trì dịch vụ hoặc có dấu hiệu can thiệp, vô hiệu hóa thiết bị phải được làm rõ.
Cơ quan chức năng cần tăng cường khai thác dữ liệu VMS để phát hiện, xác minh các trường hợp mất kết nối khi tàu đang hoạt động trên biển, có dấu hiệu vượt ranh giới cho phép, không duy trì truyền dữ liệu theo quy định hoặc có hành trình bất thường. Đối với những trường hợp có dấu hiệu bất thường, việc xác minh phải gắn với thông tin quản lý phương tiện và các dữ liệu liên quan, qua đó kịp thời phát hiện nguy cơ vi phạm và xử lý theo quy định.
Bên cạnh đó, các địa phương cần phối hợp kiểm tra việc chấp hành quy định của tổ chức, cá nhân thu mua, tiếp nhận, bảo quản, vận chuyển, chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sử dụng nguyên liệu khai thác nhập khẩu. Trường hợp có dấu hiệu bất thường về nguồn gốc thủy sản nhập khẩu hoặc liên quan đến tàu cá nước ngoài cập cảng Việt Nam theo Hiệp định về các biện pháp quốc gia có cảng (PSMA) cần được phối hợp kiểm tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời khắc phục tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện. Kết quả phải được thể hiện bằng hồ sơ, tài liệu kiểm chứng và dữ liệu cập nhật đầy đủ, chính xác trên các hệ thống quản lý. Trường hợp phát sinh khó khăn, vướng mắc, các địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền; đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tổng hợp, báo cáo Bộ (qua Cục Thủy sản và Kiểm ngư) để phối hợp xem xét, xử lý theo quy định.
Hồng Hà