(TSVN) – Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định hàng hóa được xác định có xuất xứ Việt Nam theo tiêu chí xuất xứ thuần túy hoặc không thuần túy, đồng thời quy định trách nhiệm của thương nhân và cơ quan quản lý nhà nước.
Ngày 9/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Văn bản quy định về hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công, chế biến đơn giản, các yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Nghị định này áp dụng đối với thương nhân tham gia hoạt động sản xuất, thương mại hàng hóa lưu thông trong nước và các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước có liên quan. Việc xác định xuất xứ để áp dụng biện pháp chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; quy định về cách ghi nhãn hàng hóa và hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa không thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản.
Theo Nghị định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam được chia thành hai nhóm là hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam. Trong đó, hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam bao gồm cây trồng và sản phẩm từ cây trồng được trồng, thu hoạch tại Việt Nam; động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam và sản phẩm từ các động vật này. Cùng đó là sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam; khoáng sản và chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam.

Ảnh minh họa.
Đối với sản phẩm khai thác ngoài lãnh hải, Nghị định quy định sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải Việt Nam có thể được xác định là có xuất xứ thuần túy Việt Nam nếu Việt Nam có quyền khai thác tại khu vực đó theo luật pháp quốc tế; Sản phẩm đánh bắt và hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu đăng ký tại Việt Nam, được phép treo cờ Việt Nam; Sản phẩm được chế biến hoặc sản xuất ngay trên tàu từ các sản phẩm đánh bắt nói trên được áp dụng quy định tương ứng. Ngoài ra, hàng hóa thu được hoặc sản xuất từ các sản phẩm thuộc những trường hợp được quy định tại Điều 5 cũng được xác định là có xuất xứ thuần túy Việt Nam.
Đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam, Điều 6 Nghị định quy định hai tiêu chí xác định. Một là chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ 4 số từ nguyên liệu không có xuất xứ để sản xuất hàng hóa tại Việt Nam. Thứ hai là hàng hóa có hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%.
Theo Nghị định, hàm lượng VVC được xác định theo công thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Giá xuất xưởng và trị giá nguyên liệu được xác định theo các quy định tại Điều 3. Trị giá vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa, nếu là một phần cấu thành hàng hóa, được tính vào hàm lượng VVC. Trong đó, thương nhân lựa chọn một trong hai công thức và áp dụng trong năm tài chính.
Nghị định xác định công đoạn gia công, chế biến đơn giản là công đoạn không sử dụng kỹ năng đặc biệt, máy móc, dây chuyền hoặc thiết bị chuyên dụng và không được xem xét khi xác định xuất xứ hàng hóa Việt Nam. Theo đó, các công đoạn được liệt kê gồm bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển, lưu kho như thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, ngâm muối, xông lưu huỳnh hoặc thêm phụ gia khác; loại bỏ bộ phận hư hỏng; lau chùi, tẩy rỉ, tẩy dầu mỡ, tẩy sơn hoặc các chất phủ bề mặt. Những công đoạn khác gồm thay đổi bao bì, đóng gói, đóng chai, lọ, chia tách hoặc lắp ghép lô hàng; dán, in nhãn hiệu, nhãn, mác, logo; phân loại, xếp nhóm hoặc trộn đơn giản mà không làm thay đổi bản chất hàng hóa; kiểm tra, thử nghiệm đơn giản và giết, mổ động vật. Các công đoạn này khi thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau được xem là gia công, chế biến đơn giản theo Nghị định.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ, bao gồm nhiên liệu, năng lượng, dụng cụ, khuôn rập, khuôn đúc, phụ tùng và vật liệu bảo dưỡng thiết bị, nhà xưởng; dầu nhờn, chất bôi trơn, thiết bị an toàn, máy móc kiểm tra, chất xúc tác, dung môi và những nguyên liệu khác không cấu thành hàng hóa nhưng cần thiết trong quá trình sản xuất.
Cùng với đó, theo Điều 9 Nghị định 384, thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa thông tin liên quan đến hàng hóa có trách nhiệm tuân thủ Nghị định và các quy định pháp luật về ghi nhãn, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa cùng những quy định liên quan. Đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin xuất xứ đã công bố; lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ, gồm hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và tài liệu liên quan để phục vụ thanh tra, kiểm tra. Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, thương nhân, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chứng minh hàng hóa đáp ứng quy định về xuất xứ Việt Nam.
Đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước sau đó được xuất khẩu, các thương nhân, tổ chức, cá nhân liên quan phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và quy định của nước nhập khẩu.
Nghị định giao Bộ Công Thương chủ trì tổ chức thi hành, làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước; tổng hợp, công khai hướng dẫn chuyên ngành và phối hợp kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu về xuất xứ hàng hóa.
Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm xây dựng, ban hành quy định xác định xuất xứ đối với mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý khi cần thiết; phối hợp kiểm tra và định kỳ báo cáo tình hình thực hiện về Bộ Công Thương. UBND tỉnh, thành phố thực hiện quản lý, kiểm tra, phối hợp triển khai quy định và tổng hợp, báo cáo cơ quan đầu mối về tình hình xác định xuất xứ hàng hóa lưu thông tại địa phương.
Nghị định số 384/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Trường hợp hàng hóa đã có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng quy định pháp luật trước thời điểm Nghị định có hiệu lực được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hàng hóa hết hạn sử dụng.
Phạm Thu