(TSVN) – Tình trạng vướng mắc trong xác nhận nguồn gốc hải sản khai thác đang ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng hồ sơ xuất khẩu của doanh nghiệp, trong đó có những lô hàng có nguồn gốc thực tế rõ ràng.
Vướng mắc từ phân vùng khai thác đến xác nhận nguyên liệu
Theo báo cáo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt khoảng 8 tỷ USD. Riêng thị trường EU đạt 749,5 triệu USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ. Các mặt hàng khai thác như cá ngừ, mực và bạch tuộc đang chịu sức ép đáng kể tại thị trường này, một trong những điểm nghẽn đó là hồ sơ xác nhận, chứng nhận nguồn gốc nguyên liệu.
Qua tổng hợp phản ánh của doanh nghiệp và rà soát thực tiễn, Hiệp hội VASEP cho rằng khó khăn không chỉ nằm ở một thủ tục riêng lẻ mà xuất hiện tại nhiều khâu, từ quản lý tàu cá, cập cảng, bốc dỡ, xác nhận nguồn gốc đến dữ liệu giám sát hành trình (VMS), truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT) và kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu. Nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, Hiệp hội đã có văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, kiến nghị tháo gỡ những điểm nghẽn, bất cập, vướng mắc đối với nguyên liệu thủy sản khai thác phục vụ chế biến, xuất khẩu
VASEP nhấn mạnh, Hiệp hội thống nhất với yêu cầu tăng cường kiểm soát, ngăn chặn và xử lý khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Tuy nhiên, cần phân biệt vi phạm thực chất về nguồn gốc với sai lệch kỹ thuật, hành chính hoặc vấn đề phát sinh từ dữ liệu quản lý, sự cố thiết bị và đặc thù chuỗi thu mua. Đối với nguyên liệu có đủ cơ sở chứng minh nguồn gốc hợp pháp, Hiệp hội đề xuất ưu tiên đối soát, giải trình, khắc phục và quản lý theo rủi ro và chỉ loại trừ khi có căn cứ xác định nguyên liệu không đáp ứng quy định pháp luật.
Bất cập nổi bật hiện nay là việc xác định vùng khai thác dựa đồng thời vào chiều dài lớn nhất của tàu và vùng biển hoạt động. Theo phản ánh của doanh nghiệp, chỉ cần không đáp ứng một trong hai tiêu chí, hồ sơ xác nhận nguồn gốc (S/C) có thể bị từ chối, dù hoạt động khai thác thực tế có cơ sở chứng minh. Chẳng hạn, tàu vây cá cơm dài hơn 15 m nhưng nghề khai thác và đặc tính ngư trường phù hợp với vùng lộng. Nếu áp dụng cứng nhắc tiêu chí chiều dài để xác định vùng hoạt động, nguyên liệu vẫn có nguy cơ không được xác nhận.
Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong xác nhận nguồn gốc hải sản khai thác. Ảnh: CTV
Thêm vào đó là vướng mắc trong việc xác định vùng ven bờ tính từ đảo. Theo khoản 1 Điều 24 và khoản 1 Điều 25 Nghị định số 41/2026/NĐ-CP, khu vực trong phạm vi 6 hải lý tính từ ngấn nước triều quanh đảo được coi là vùng bờ của đảo. Vì vậy, một tàu hoạt động tại ngư trường vốn thuộc vùng lộng hoặc vùng khơi nếu tính từ đất liền có thể bị xác định sang vùng bờ do gần một đảo nhỏ giữa biển, dẫn đến khó khăn khi xin xác nhận nguồn gốc.
Đối với nghề lưới đôi, tàu phụ chỉ hỗ trợ kéo lưới hoặc cáp, không trực tiếp khai thác, nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục cập cảng, xuất bến như tàu khai thác chính. Theo VASEP, nếu không xem xét vai trò thực tế của từng tàu, nguyên liệu của cả chuyến biển có thể bị ảnh hưởng dù không phát sinh hành vi khai thác bất hợp pháp.
Cần cơ chế phù hợp với đặc thù khai thác và thu mua
Từ những bất cập trên, VASEP kiến nghị rà soát quy định phân vùng khai thác theo hướng gắn với nghề, ngư cụ, đối tượng khai thác, mùa vụ, ngư trường và an toàn tàu cá, thay vì chỉ căn cứ máy móc vào chiều dài tàu và khoảng cách địa lý. Hiệp hội cũng đề xuất bổ sung thông tin về vùng khai thác được phép vào giấy phép khai thác thủy sản theo từng nghề, ngư cụ và mùa vụ, tạo cơ sở xác nhận rõ ràng hơn.
Đối với nguyên liệu hải sản khai thác nhập khẩu phục vụ chế biến, xuất khẩu, vấn đề khó khăn hiện nay là quy định cập cảng và hoạt động thu gom, chuyển tải trên biển. Khoản 4 Điều 25 Nghị định số 41/2026/NĐ-CP quy định tàu cá dài từ 6 m trở lên phải cập cảng để bốc dỡ thủy sản khai thác, nhưng theo VASEP, quy định không ấn định chu kỳ tối đa giữa hai lần cập cảng. Trong thực tế, một số cơ quan thực thi yêu cầu tàu phải cập cảng ít nhất một lần trong vòng 6 tháng, nếu quá thời hạn, hồ sơ có thể bị coi là không báo cáo và không được xem xét xác nhận.
Trong khi đó, một số đội tàu khai thác xa bờ hoạt động liên tục nhiều tháng, nhận nhiên liệu, đá, nhu yếu phẩm và chuyển sản phẩm vào bờ thông qua tàu dịch vụ hậu cần. Tàu khai thác chỉ cập bờ khi cần đăng kiểm, gia hạn giấy chứng nhận an toàn thực phẩm hoặc sửa chữa lớn. Dó đó, việc không thường xuyên cập cảng trong trường hợp này không đồng nghĩa với khai thác bất hợp pháp hay không báo cáo. Ngoài ra, kế hoạch cập cảng có thể thay đổi do thời tiết, sản lượng, luồng lạch hoặc điều kiện giao dịch thực tế. Nếu thiếu cơ chế giải trình phù hợp, hành trình thay đổi có thể bị đánh giá là bất hợp lý, ảnh hưởng đến hồ sơ xác nhận nguyên liệu.
Bên cạnh đó, VASEP cũng phản ánh nguy cơ loại bỏ cả lô nguyên liệu khi tàu dịch vụ hậu cần bị xác định hoạt động sai vùng. Bởi, một chuyến thu gom có thể tiếp nhận sản phẩm từ nhiều tàu khai thác khác nhau, nếu không phân tách được trách nhiệm theo từng nguồn, nguyên liệu hợp pháp vẫn có thể bị ảnh hưởng bởi sai phạm tại một mắt xích.
Chính vì thế, Hiệp hội kiến nghị rà soát căn cứ pháp lý về chu kỳ cập cảng, chấm dứt việc áp dụng mốc tối đa 6 tháng nếu pháp luật không quy định, đồng thời xây dựng quy trình riêng cho tàu dịch vụ hậu cần, hoạt động chuyển tải và trường hợp thay đổi cảng cập ngoài kế hoạch. Doanh nghiệp, chủ tàu cần được giải trình bằng dữ liệu VMS, nhật ký khai thác, chứng từ giao nhận và các lý do khách quan liên quan đến thời tiết, luồng lạch, an toàn hàng hải.
Mặt khác, VASEP đề xuất chỉ loại trừ phần nguyên liệu không chứng minh được tính hợp pháp, thay vì mặc định loại bỏ toàn bộ lô hàng hoặc chuyến thu gom khi dữ liệu cho phép truy xuất riêng từng tàu nguồn. Đồng thời cập nhật các vi phạm hành chính đã được xử lý dứt điểm vào Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase), tránh để một vi phạm đã hoàn tất xử lý tiếp tục trở thành rào cản ở các thủ tục khác.
Bảo Hân