Bài toán của ngành tôm Việt Nam không đơn thuần là công nghệ

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Công nghệ đang ngày càng hiện diện sâu hơn trong lĩnh vực nuôi tôm tại Việt Nam, từ con giống, quản lý môi trường, cho ăn tự động đến tuần hoàn nước, AI và IoT. Tuy nhiên, khoảng cách về giá thành, dịch bệnh và hiệu quả sản xuất so với những quốc gia nuôi tôm lớn cho thấy vấn đề không còn nằm ở việc có công nghệ hay không, mà ở khả năng ứng dụng đồng bộ và biến công nghệ thành lợi thế cạnh tranh.

TS. Phạm Anh Tuấn, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, phân tích những điểm nghẽn và hướng công nghệ có thể tạo bước đột phá cho ngành tôm Việt Nam.

Khoa học thay đổi mạnh mẽ trong sản xuất

Phóng viên: Thưa TS. Phạm Anh Tuấn, trong những năm gần đây, khoa học – công nghệ đã làm thay đổi phương thức nuôi tôm ở Việt Nam như thế nào và những công nghệ nào đang tạo ra tác động rõ nhất?

TS. Phạm Anh Tuấn: Công nghệ đã và đang thay đổi nuôi tôm ở Việt Nam, nuôi tôm thâm canh, kiểm soát môi trường, dịch bệnh, thức ăn và sử dụng nhân lực. Một số công nghệ đang tạo ra tác động rõ hơn, như hệ thống nuôi tuần hoàn không thay nước (RAS), công nghệ biofloc, ứng dụng công nghệ thông tin trong quan trắc môi trường và hệ thống cho ăn tự động. Những công nghệ này giúp người nuôi kiểm soát tốt hơn các yếu tố trong quá trình sản xuất, qua đó góp phần nâng năng suất và giảm một số chi phí, đặc biệt là chi phí thức ăn, nhân công và xử lý các vấn đề phát sinh trong ao nuôi.

Phóng viên: Nếu nhìn trên toàn bộ chuỗi sản xuất, từ con giống, thức ăn, quản lý môi trường đến kiểm soát dịch bệnh, Việt Nam đang làm chủ những công nghệ nào và còn phụ thuộc vào đâu, thưa ông?

TS. Phạm Anh Tuấn: Việt Nam đã chủ động được nhiều khâu quan trọng trong cả chuỗi giá trị ngành hàng tôm. Chúng ta có khả năng sản xuất đủ nhu cầu tôm giống, nhưng đối với tôm bố mẹ vẫn còn phụ thuộc khá lớn vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu.

Với thức ăn, các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất thức ăn trong nước, nhưng phần lớn nguyên liệu sản xuất thức ăn như đậu tương, bột cá… vẫn phải nhập khẩu. Còn trong quản lý môi trường vùng nuôi, các phương pháp quan trắc, quản lý và thiết bị cơ bản đã có. Vấn đề nằm ở hạ tầng vùng nuôi và điều kiện của từng cơ sở. Đặc biệt, tại các vùng nuôi có nhiều hộ nhỏ lẻ, hệ thống cấp, thoát nước và xử lý chất thải chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Đây là một điểm nghẽn lớn khi muốn đưa công nghệ vào sản xuất ở quy mô rộng.

“Bài toán của ngành tôm Việt Nam không đơn thuần là đưa thêm thiết bị hiện đại vào ao nuôi mà phải tổ chức lại cả hệ thống sản xuất để công nghệ thực sự tạo ra hiệu quả”. Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn

Ưu tiên lựa chọn từng giải pháp phù hợp

Phóng viên: Như vậy, có thể nói Việt Nam không thiếu công nghệ, nhưng khả năng đưa công nghệ vào sản xuất còn là vấn đề, thưa ông?

TS. Phạm Anh Tuấn: Đúng vậy. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với điều kiện hạ tầng, quy mô sản xuất và năng lực quản lý phù hợp.

Hiện nay, các mô hình nuôi nhiều giai đoạn, tuần hoàn nước, biofloc, tự động hóa, AI và IoT đã được ứng dụng tại một số cơ sở nuôi tôm. Những giải pháp này có thể hỗ trợ kiểm soát dịch bệnh, chất thải, thức ăn và nhân lực. Tuy nhiên, không thể áp dụng một công nghệ giống nhau cho tất cả các hộ nuôi. Việc lựa chọn công nghệ cần căn cứ vào diện tích, khả năng vốn đầu tư, trình độ quản lý và điều kiện thực tế của từng cơ sở. Với hộ nuôi nhỏ, hạn chế vốn đầu tư có thể lựa chọn từng giải pháp phù hợp.

Phóng viên: Theo ông, vì sao công nghệ đã được ứng dụng khá nhiều nhưng hiệu quả sản xuất tôm của Việt Nam vẫn chưa tương xứng, trong khi một số cường quốc tôm khác có giá thành thấp hơn đáng kể?

TS. Phạm Anh Tuấn: Theo tôi, có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này. Trước hết là vấn đề hạ tầng và tổ chức sản xuất ở các vùng nuôi tôm tập trung. Công nghệ trong một cơ sở nuôi có thể khá hiện đại nhưng nếu hệ thống cấp, thoát nước chung của cả vùng chưa được đầu tư đồng bộ thì khả năng kiểm soát môi trường và dịch bệnh vẫn bị hạn chế.

Thứ hai là quy mô sản xuất. Các vùng nuôi có nhiều hộ nhỏ lẻ khiến việc áp dụng đồng bộ công nghệ, quản lý môi trường và kiểm soát dịch bệnh khó khăn hơn. Đồng thời, nhiều khâu trung gian trong cung ứng thức ăn, chế phẩm và vật tư cũng làm tăng chi phí sản xuất.

Thứ ba là dịch bệnh. Khoảng cách đáng kể của Việt Nam so với một số nước sản xuất tôm lớn như Ecuador, Ấn Độ và Indonesia hiện nằm ở giá thành sản xuất cao và rủi ro dịch bệnh lớn. Theo ước tính, giá thành sản xuất 1 kg tôm ở Việt Nam cao hơn khoảng 60 – 70% so với Ecuador và tỷ lệ nuôi tôm bị dịch bệnh, tỷ lệ nuôi tôm không thành công cũng được đánh giá là lớn so với các nước Ecuador, Ấn Độ và Indonesia.

Do đó, bài toán của ngành tôm Việt Nam không đơn thuần là đưa công nghệ cao, thêm thiết bị hiện đại vào ao nuôi mà phải tổ chức lại cả hệ thống sản xuất để công nghệ thực sự tạo ra hiệu quả.

Công nghệ đã và đang thay đổi phương thức nuôi tôm ở Việt Nam. Nguồn: Báo Quảng Trị

Chúng ta chưa đạt mức độ “nuôi tôm thông minh”

Phóng viên: Vậy có phải đây cũng là lý do khiến Việt Nam chưa thực sự bước vào giai đoạn “nuôi tôm thông minh”, dù AI, IoT và tự động hóa đã bắt đầu xuất hiện, thưa ông?

TS. Phạm Anh Tuấn: Có lẽ là như thế. Chuyển đổi số và tự động hóa hiện là xu hướng tất yếu trong nuôi tôm. Việt Nam đã có một số cơ sở, chủ yếu là doanh nghiệp và các cơ sở nuôi tôm thâm canh, ứng dụng chuyển đổi số và tự động hóa. Thế nhưng, nhìn trên diện rộng, hoạt động nuôi tôm vẫn chủ yếu là ứng dụng từng thiết bị, từng giải pháp riêng lẻ. Chúng ta chưa đạt đến mức độ “nuôi tôm thông minh” thực sự, trong đó dữ liệu từ môi trường, thức ăn, sức khỏe tôm và các yếu tố sản xuất được kết nối, tổng hợp hỗ trợ người nuôi ra quyết định, tối ưu quản lý ao/trang trại nuôi tôm.

Phóng viên: So với các cường quốc nuôi tôm trên thế giới, công nghệ trong sản xuất của Việt Nam đang ở đâu, thưa ông?

TS. Phạm Anh Tuấn: Nếu chỉ nhìn vào sự hiện diện của các công nghệ riêng lẻ thì Việt Nam không phải là nước đi sau quá xa. Chúng ta đã có RAS, biofloc, tự động hóa, quan trắc môi trường, công nghệ giống và từng bước ứng dụng AI, IoT.

Theo tôi, khoảng cách lớn hơn nằm ở khả năng biến công nghệ thành năng suất, giá thành và mức độ kiểm soát rủi ro. Ecuador có lợi thế rất lớn về quy mô sản xuất, tối ưu chi phí. Trong khi đó, các nước sản xuất tôm ở châu Á cũng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nuôi tôm. Vấn đề đối với ngành tôm Việt Nam không chỉ là có công nghệ hay chưa, mà là làm thế nào để công nghệ được áp dụng đồng bộ, phù hợp với điều kiện sản xuất và tạo ra hiệu quả kinh tế thực tế.

Phóng viên: Vậy theo ông, ngành tôm Việt Nam có lợi thế công nghệ nào có thể tạo khác biệt và đâu là điểm cần ưu tiên?

TS. Phạm Anh Tuấn: Việt Nam có lợi thế rất riêng, đặc biệt là các mô hình tôm – lúa và tôm – rừng. Những mô hình này có diện tích lớn, chi phí sản xuất thấp, ít dịch bệnh, chất lượng tôm cao, hạn chế sử dụng kháng sinh và có mức phát thải thấp. Đây có thể là hướng để Việt Nam tạo lợi thế khác biệt thay vì chỉ cạnh tranh bằng cách tăng mức độ thâm canh. Chúng ta có thể mở rộng các mô hình tôm – lúa, tôm – rừng tại những vùng có điều kiện phù hợp, đồng thời đưa tiến bộ kỹ thuật vào để cải thiện năng suất và quan tâm xây dựng thương hiệu tôm – lúa, tôm – rừng, nâng cao giá trị sản phẩm.

Với mô hình nuôi thâm canh, để giảm giá thành thì trước hết phải giảm chi phí thức ăn và kiểm soát dịch bệnh. Muốn vậy, cần đầu tư cải thiện hạ tầng vùng nuôi, đặc biệt là hệ thống cấp và thoát nước. Cùng với đó là tổ chức lại sản xuất tại các vùng nuôi tập trung, nhất là các vùng nuôi gồm nhiều cơ sở và hộ nuôi nhỏ lẻ. Khi tổ chức sản xuất tốt hơn, có thể giảm các khâu trung gian trong cung ứng thức ăn, chế phẩm, vật tư và quản lý môi trường vùng nuôi hiệu quả hơn. Đây là điều kiện quan trọng để công nghệ phát huy sức mạnh. Bởi nếu chỉ đầu tư công nghệ tại từng ao nuôi mà không giải quyết được những vấn đề chung của vùng nuôi thì hiệu quả sẽ bị hạn chế.

Các mô hình nuôi tôm hiện tại giúp sản lượng tôm nuôi nước ta tăng trưởng ngoạn mục. Nguồn: VGP

Chọn đúng để giải quyết tốt các điểm nghẽn

Phóng viên: Thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu giảm kháng sinh, kiểm soát dư lượng, giảm phát thải và truy xuất nguồn gốc. Công nghệ nuôi tôm của Việt Nam đã đáp ứng đến đâu và làm gì để tạo bước đột phá trong thời gian tới, thưa ông?

TS. Phạm Anh Tuấn: Ngành tôm Việt Nam có nhiều vùng nuôi đạt các chứng nhận quốc tế về nuôi trồng thủy sản bền vững như ASC, GlobalGAP, BAP. Đây là minh chứng cho khả năng đáp ứng những yêu cầu của thị trường quốc tế về kiểm soát kháng sinh, chất lượng tôm và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng chưa đồng đều. Tại các vùng nuôi tôm thâm canh tập trung nhiều hộ nhỏ lẻ, việc giảm sử dụng kháng sinh, kiểm soát dư lượng, giảm phát thải và truy xuất nguồn gốc vẫn còn hạn chế.

Điều này cho thấy để đáp ứng yêu cầu của thị trường, công nghệ chỉ là một phần. Chúng ta còn phải giải quyết đồng thời bài toán đầu tư hạ tầng, tổ chức sản xuất và đào tạo người nuôi.

Để tạo ra bước đột phá, theo tôi, chúng ta cần tập trung vào ba nhóm công nghệ.

Thứ nhất là công nghệ chọn giống, đặc biệt là chọn giống hệ gen để tạo ra những giống tôm có nhiều tính trạng tốt như sinh trưởng nhanh, kháng bệnh.

Thứ hai là công nghệ tạo ra các sản phẩm giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn, đồng thời tăng sức kháng bệnh cho tôm.

Thứ ba là ứng dụng công nghệ thông tin và AI phục vụ quản lý cho ăn, quản lý môi trường và dịch bệnh.

Nếu kết hợp được ba nhóm công nghệ này với hạ tầng vùng nuôi được đầu tư nâng cấp và tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả giảm chi phí và kiểm soát rủi ro sẽ rõ hơn.

Theo số liệu của ngành nông nghiệp, 9 tháng năm 2026, sản lượng tôm cả nước tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm thẻ chân trắng đạt 940.800 tấn, tăng 8,3%; tôm sú đạt 261.300 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ.

Phóng viên: Nếu đặt mục tiêu xây dựng ngành tôm xanh, an toàn sinh học và có sức cạnh tranh toàn cầu, nền tảng khoa học – công nghệ hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu chưa, thưa ông?

TS. Phạm Anh Tuấn: Theo tôi, nền tảng khoa học – công nghệ hiện nay đã tạo cơ sở để Việt Nam phát triển ngành tôm theo hướng xanh, ít phát thải, tuần hoàn, an toàn sinh học và nâng cao sức cạnh tranh. Điều quan trọng trong giai đoạn tới là lựa chọn đúng những công nghệ có khả năng tác động trực tiếp đến các điểm nghẽn của ngành, đặc biệt là công nghệ giống, công nghệ nâng cao hiệu quả thức ăn, tăng sức kháng bệnh và công nghệ IT, AI phục vụ quản lý sản xuất. Cùng với đó, cần nhìn công nghệ trong tổng thể của cả ngành. Trong đó, hạ tầng vùng nuôi, tổ chức sản xuất, quy mô hộ nuôi, đào tạo nhân lực và liên kết giữa các khâu trong chuỗi phải được cải thiện đồng thời.

Khi những yếu tố này được giải quyết, công nghệ mới có thể chuyển từ việc “có mặt” trong ao nuôi sang thực sự tạo ra năng suất, giảm giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho tôm Việt Nam.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thu Hồng
Thực hiện

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài