(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành quy trình kiểm tra, đối chiếu và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác tại các doanh nghiệp chế biến, nhằm ngăn chặn nguyên liệu có nguồn gốc bất hợp pháp đi vào chuỗi sản xuất, xuất khẩu.
Ngày 14/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3885/QĐ-BNNMT về Quy trình thực hành trong kiểm tra truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác tại các doanh nghiệp chế biến.
Quy trình sẽ thực hiện xuyên suốt chuỗi nguyên liệu, từ nhập khẩu, thu mua trong nước đến tiếp nhận, bảo quản, chế biến, lưu kho và xuất khẩu thành phẩm. Việc kiểm tra còn bao gồm đối chiếu hồ sơ, dữ liệu với sản lượng thực tế tại doanh nghiệp, qua đó đánh giá khả năng truy xuất nguồn gốc và mức độ tuân thủ các quy định liên quan đến chống khai thác IUU.
Theo quy định, hoạt động kiểm tra phải bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cơ quan; khách quan, minh bạch, tránh chồng chéo và không gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp. Cơ quan chức năng kết hợp kiểm tra hồ sơ với kiểm tra thực tế, ưu tiên phương thức quản lý rủi ro, phân tích dữ liệu và dấu hiệu vi phạm. Kết quả phải được lập biên bản, lưu hồ sơ, cập nhật phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc. Trong đó, cơ quan kiểm tra không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại hồ sơ, tài liệu, dữ liệu đã có hoặc có thể khai thác từ cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp cần đối chiếu, xác minh theo quy định.
Hoạt động kiểm tra được thực hiện định kỳ theo kế hoạch hằng năm hoặc đột xuất khi xuất hiện dấu hiệu vi phạm, có phản ánh, cảnh báo từ Ủy ban châu Âu (EC), cơ quan nước ngoài hay cơ quan chức năng. Những trường hợp hồ sơ nhập khẩu, sản xuất, tồn kho và xuất khẩu có chênh lệch bất thường hoặc có yêu cầu của cấp có thẩm quyền cũng thuộc diện xem xét kiểm tra đột xuất.

Siết chặt quản lý đối với nguyên liệu khai thác tại các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Ảnh: Tạp chí Thiên nhiên và Môi trường.
Đối với nguyên liệu thủy sản nhập khẩu, đoàn kiểm tra rà soát tính đầy đủ, hợp lệ và thống nhất của hồ sơ, chứng từ; đối chiếu chủng loài, sản lượng, quốc gia khai thác, quốc gia cảng và thông tin tàu khai thác. Hồ sơ bao gồm tờ khai hải quan, vận đơn hoặc chứng từ vận tải tương đương, hóa đơn thương mại trong trường hợp áp dụng, danh sách sản phẩm thủy sản nhập khẩu và giấy chứng nhận sức khỏe. Trường hợp có liên quan, việc kiểm tra còn bao gồm báo cáo phân loại, cân đối chiếu sản lượng thủy sản khai báo nhập khẩu bằng container.
Với nguyên liệu thu mua trong nước, nội dung xác minh tập trung vào nhật ký khai thác trong trường hợp pháp luật yêu cầu, Giấy biên nhận sản phẩm thủy sản khai thác bốc dỡ, Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác (SC), Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác (CC), hợp đồng mua bán và thông tin về tàu cá. Cơ quan kiểm tra đối chiếu chủng loài, khối lượng thu mua, tàu và vùng khai thác, đồng thời xác minh tổ chức cấp chứng từ cũng như tính xác thực của các giấy tờ liên quan.
Tại doanh nghiệp chế biến, đoàn kiểm tra sẽ rà soát sổ theo dõi nhập kho, chứng từ xác nhận khối lượng thực nhập, nhật ký tiếp nhận và hồ sơ phân lô đối với nguyên liệu trong nước, nhập khẩu; Chủng loại, quy cách, kích cỡ nếu có, lượng hàng tồn kho, tình trạng bảo quản và mã nhận diện lô hàng nhập khẩu cũng được kiểm tra, đối chiếu. Cùng đó là so sánh sản lượng nguyên liệu nhập khẩu, lượng đưa vào chế biến, sản lượng xuất khẩu, định mức sản xuất, tỷ lệ hao hụt và lượng tồn kho thực tế. Mục đích kiểm tra sự thống nhất giữa hồ sơ khai báo với hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
Đối với lô hàng xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu, việc truy xuất được thực hiện theo cả hai chiều. Từ thành phẩm xuất khẩu, cơ quan chức năng truy về lô nguyên liệu và hồ sơ thu mua liên quan; ngược lại, từ lô nguyên liệu có thể xác định các lô hàng đã sử dụng nguyên liệu đó để xuất khẩu, bao gồm hàng xuất sang EU. Hồ sơ nhập khẩu, thu mua trong nước, sản xuất, xuất khẩu và cấp chứng thư được đối chiếu nhằm làm rõ nguồn gốc nguyên liệu cũng như khối lượng sử dụng cho từng thị trường.
Bên cạnh hồ sơ giấy, quy trình yêu cầu kiểm tra việc cập nhật dữ liệu trên hệ thống dịch vụ công hoặc hệ thống điện tử theo quy định; hệ thống lưu trữ hồ sơ truy xuất, thời gian lưu trữ và khả năng đối chiếu dữ liệu. Khi phát hiện vi phạm, đoàn kiểm tra có trách nhiệm lập biên bản, kiến nghị xử lý theo quy định hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền nếu có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Với các dấu hiệu liên quan đến IUU hoặc gian lận nguồn gốc, cơ quan chức năng kiến nghị áp dụng biện pháp quản lý phù hợp, tăng cường kiểm tra doanh nghiệp và báo cáo cấp có thẩm quyền để phối hợp xử lý.
Quy trình cũng phân định trách nhiệm giữa các cơ quan tham gia. Trong đó, Cục Thủy sản và Kiểm ngư thực hiện nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ nguyên liệu nhập khẩu, thu mua trong nước, cung cấp và đối chiếu dữ liệu nguồn gốc khai thác, xác minh thông tin tàu cá, vùng khai thác, chứng từ SC/CC và phân tích rủi ro nguồn nguyên liệu.
Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường sẽ trực tiếp kiểm tra quá trình truy xuất tại doanh nghiệp, chủ trì đối chiếu chuỗi sản xuất – xuất khẩu, bao gồm định mức sản xuất, tỷ lệ hao hụt, sản lượng xuất khẩu, hồ sơ cấp chứng thư và hồ sơ an toàn thực phẩm. Đồng thời chủ trì truy xuất nguồn gốc các lô hàng xuất khẩu có dấu hiệu vi phạm, tổng hợp kết quả thực hiện, đề xuất xử lý và thẩm tra việc khắc phục tồn tại sau kiểm tra.
Cục Hải quan có trách nhiệm phối hợp cung cấp dữ liệu, xác minh hồ sơ liên quan đến thông quan các lô hàng thủy sản nhập khẩu, xuất khẩu, đặc biệt khi có dấu hiệu gian lận thương mại, gian lận nguồn gốc hoặc vi phạm quy định IUU. Sở Nông nghiệp và Môi trường các địa phương phối hợp kiểm tra liên ngành, xác minh nguồn gốc nguyên liệu trong nước và theo dõi việc khắc phục tồn tại của doanh nghiệp trên địa bàn.
Về phía doanh nghiệp, nhiệm vụ quan trọng là thực hiện đầy đủ quy định về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác, cung cấp hồ sơ và tạo điều kiện cho đoàn kiểm tra làm nhiệm vụ. Đồng thời phải lưu trữ, cung cấp thông tin phục vụ truy xuất trên toàn chuỗi, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của hồ sơ, chứng từ, dữ liệu; khắc phục các tồn tại đúng thời hạn và báo cáo kết quả theo yêu cầu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhấn mạnh, trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị phản ánh về Bộ (qua Cục Thủy sản và Kiểm ngư; Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường) để xem xét sửa đổi, bổ sung.
Hồng Hà