(TSVN) – Thay vì duy trì nhiều vụ lúa liên tiếp, nông dân An Giang đang có thêm lựa chọn khai thác hiệu quả đất sản xuất thông qua mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh với trồng lúa.
Ngày 22/9, tại ấp Bình Hòa, xã Vĩnh Bình, tỉnh An Giang, Trung tâm Khuyến nông An Giang tổ chức ngày hội thu hoạch mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh với trồng lúa. Điểm tham quan là mô hình của ông Trần Văn Chiếm, được triển khai trên diện tích 3 ha, sử dụng tôm càng xanh toàn đực và áp dụng quy trình nuôi hai giai đoạn, gồm ương giống và nuôi thương phẩm. Cách tổ chức này giúp tôm giống có thời gian thích nghi, phát triển trước khi được chuyển ra ruộng nuôi, đồng thời tạo điều kiện để người nuôi quản lý đàn tôm theo từng giai đoạn.
Sau hơn 6 tháng nuôi, mô hình thu hoạch được 1.500 kg tôm trên diện tích 3 ha. Tôm được thương lái thu mua ở dạng tôm sống, vận chuyển bằng bồn có sục khí ôxy, với giá 100.000 đồng/kg. Tổng doanh thu đạt 150 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận còn khoảng 70 triệu đồng.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào và hiệu quả sản xuất lúa còn là bài toán đối với nhiều hộ nông dân, việc bổ sung một vụ nuôi thủy sản có giá trị kinh tế là phương án đáng quan tâm tại những vùng có điều kiện phù hợp. Thay vì chỉ trông chờ vào nguồn thu từ cây lúa, người dân có thể phân bổ hoạt động sản xuất theo thời gian, tận dụng mặt ruộng, hệ thống mương bao và nguồn nước để phát triển thêm đối tượng nuôi.
Đặc biệt, mô hình luân canh không đồng nghĩa với việc chuyển hẳn đất lúa sang nuôi thủy sản. Sau khi kết thúc vụ tôm, ruộng tiếp tục được cải tạo để trồng lúa, duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp trên cùng diện tích. Đây là điểm quan trọng giúp mô hình có thể được xem xét tại những khu vực cần đa dạng hóa sinh kế nhưng vẫn muốn giữ vai trò của cây lúa trong cơ cấu sản xuất.
Theo ông Nguyễn Ngọc Toản, Phó Trưởng phòng Chăn nuôi – Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông An Giang, việc bố trí lịch thời vụ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của mô hình tôm càng xanh luân canh với lúa.
Thông thường, vụ nuôi tôm được tổ chức trong mùa khô, sau đó thu hoạch vào khoảng tháng 8 – 9 dương lịch để chuyển sang sản xuất lúa. Khi thu hoạch lúa xong, nông dân xử lý rơm rạ, cải tạo mặt ruộng, bón vôi và phơi đất trước khi cấp nước, chuẩn bị cho vụ tôm tiếp theo.
Trong quy trình nuôi hai giai đoạn, khu vực ương giống nên chiếm khoảng 10% diện tích. Tôm giống được ương trong khoảng một tháng rưỡi đến hai tháng trước khi chuyển ra ruộng nuôi thương phẩm. Mật độ thả nuôi phù hợp khoảng 3 con/m²; trường hợp nuôi với mật độ cao hơn cần tăng cường cung cấp ôxy để đáp ứng nhu cầu của tôm.
Qua theo dõi nhiều năm, năng suất tôm càng xanh trong mô hình luân canh có thể dao động từ 1,2 – 1,7 tấn/ha; một số hộ nuôi với mật độ cao đạt khoảng 2 tấn/ha. Dù vậy, đây không phải mức năng suất có thể áp dụng đồng loạt cho mọi diện tích. Kết quả sản xuất còn phụ thuộc vào chất lượng con giống, mực nước, khả năng cấp thoát nước, điều kiện môi trường và kỹ thuật chăm sóc của từng hộ.
Người nuôi thu hoạch tôm chuyển về nơi tập kết. Ảnh: Báo An Giang
Quản lý nước là khâu đặc biệt quan trọng trong suốt vụ nuôi. Theo cán bộ kỹ thuật, tôm càng xanh có thể được nuôi trong môi trường nước ngọt và nước lợ nhẹ, nhưng người nuôi phải duy trì mực nước thích hợp, đồng thời chủ động thay nước để cải thiện môi trường ao, ruộng nuôi.
Đối với vùng nước ngọt, có thể thay khoảng 20 – 30% lượng nước sau 15 – 20 ngày nhằm kích thích tôm lột xác, tăng trưởng và hạn chế tình trạng đóng rong. Tuy nhiên, việc thay nước cần căn cứ vào điều kiện thực tế, bảo đảm nguồn nước cấp phù hợp và tránh làm biến động môi trường đột ngột.
Bên cạnh đó, khâu cải tạo ruộng sau thu hoạch lúa cũng không thể xem nhẹ. Rơm rạ cần được xử lý phù hợp, mặt ruộng được cải tạo và chuẩn bị kỹ trước khi bước vào vụ nuôi mới. Nếu chủ quan ở khâu này, chất lượng môi trường nước có thể bị ảnh hưởng, làm tăng nguy cơ phát sinh vấn đề trong quá trình nuôi.
Một lợi thế của mô hình là tận dụng được hệ sinh thái ruộng lúa. Theo ông Nguyễn Phước Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang, gốc rạ có thể tạo nơi trú ẩn và góp phần cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, qua đó hỗ trợ giảm chi phí đầu vào.
Dù vậy, lợi thế này chỉ phát huy khi người nuôi quản lý tốt chất lượng nước, mật độ thả và lịch thời vụ. Việc lựa chọn con giống bảo đảm chất lượng, theo dõi quá trình sinh trưởng và chủ động phương án thu hoạch cũng là những yêu cầu cần được chú trọng để hạn chế rủi ro.
Tại ngày hội thu hoạch ở Vĩnh Bình, sự quan tâm của nông dân không chỉ tập trung vào sản lượng và giá bán tôm mà còn hướng đến khả năng áp dụng mô hình trên chính diện tích canh tác của gia đình.
Ông Trần Hữu Hạnh, nông dân xã Vĩnh Trạch chia sẻ, gia đình ông nhiều năm duy trì sản xuất 3 vụ lúa/năm nhưng lợi nhuận không cao. Vì vậy, ông tham gia đoàn tham quan để tìm hiểu thêm về mô hình tôm – lúa, từ đó có cơ sở đánh giá khả năng chuyển đổi.
Qua quan sát thực tế và trao đổi với hộ nuôi, cán bộ khuyến nông, ông Hạnh nhận thấy điều kiện nguồn nước và giao thông thủy tại địa phương tương đối thuận lợi để nghiên cứu áp dụng. Nếu mô hình phù hợp và mang lại hiệu quả, ông mong muốn chuyển đổi sản xuất, đồng thời vận động các hộ nông dân khác cùng tìm hiểu.
Tuy nhiên, chuyển đổi không thể thực hiện theo phong trào hoặc nhân rộng đồng loạt. Không phải mọi vùng trồng lúa đều có điều kiện phù hợp để nuôi tôm càng xanh. Trước khi triển khai, địa phương và người dân cần đánh giá khả năng cấp thoát nước, chất lượng đất, nguồn nước, lịch thời vụ cũng như điều kiện tổ chức sản xuất. Đặc biệt, hệ thống thủy lợi cần đáp ứng yêu cầu của cả vụ nuôi thủy sản và vụ trồng lúa kế tiếp.
Theo Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang Nguyễn Phước Thành, Trung tâm sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ kỹ thuật và khuyến khích các địa phương lựa chọn mô hình phù hợp để phát triển. Ông cũng đề xuất gắn hoạt động ngày hội thu hoạch với trải nghiệm nông nghiệp, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại chỗ, từng bước mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông thôn và tạo thêm sinh kế cho người dân.
Thùy Khánh