(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 – 2030 nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước hồ chứa để phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng giảm khai thác, tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Đề án xác định mục tiêu tổng thể là phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị, gắn với bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản. Đề án cũng nhấn mạnh việc chuyển dịch cơ cấu từ khai thác sang nuôi trồng, góp phần giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên vốn đang suy giảm.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, sản lượng nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa dự kiến đạt trên 260.000 tấn mỗi năm, trong đó nuôi lồng bè chiếm hơn 190.000 tấn, sản lượng thủy sản nuôi thả trực tiếp đạt trên 70.000 tấn/năm. Giá trị sản xuất ước đạt khoảng 16.000 tỷ đồng/năm.
Đề án còn đặt mục tiêu tạo việc làm cho hơn 80.000 lao động, với thu nhập tăng trên 50% so với năm 2025. Khoảng 30% lao động tham gia là người dân tộc thiểu số, góp phần giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội tại các địa bàn khó khăn; hơn 50% cơ sở nuôi được định hướng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài ra, phấn đấu trên 5% số cơ sở nuôi lồng bè trên các hồ chứa áp dụng quy trình thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGAP hoặc tương đương) hoặc quy trình kỹ thuật tiên tiến, thân thiên môi trường; sử dụng vật liêu làm lồng bè thân thiên với môi trường.

Nuôi trồng thủy sản trên các hồ chứa đang tạo sinh kế bền vững cho nhiều hộ dân. Ảnh: Tép Bạc
Một trong những trọng tâm của Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 – 2030 là định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sinh thái, thân thiện môi trường. Các mô hình nuôi sẽ tận dụng điều kiện tự nhiên của hồ chứa, kết hợp tái tạo nguồn lợi và bảo vệ đa dạng sinh học. Đồng thời, khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến như lồng nuôi bằng vật liệu HDPE, hệ thống cho ăn tự động, quan trắc môi trường bằng cảm biến và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý. Các công nghệ như dữ liệu lớn (big data), Internet vạn vật (IoT) và blockchain sẽ được nghiên cứu áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, truy xuất nguồn gốc và cảnh báo dịch bệnh.
Song song với đó, xây dựng và phát triển các vùng sản xuất giống thủy sản tại chỗ, ưu tiên giống bản địa và các loài thủy sản đặc sản có chất lượng cao, phù hợp với điều kiên sinh thái của từng hồ chứa; tổ chức hình thành hê thống cơ sở ương dưỡng giống và mạng lưới cung ứng giống tại địa phương, nhằm chủ động nguồn giống phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng bền vững. Đồng thời, phát triển sản xuất, cung ứng thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, thuốc phòng, trị bênh thủy sản và các loại vật tư, thiết bị nuôi trồng thủy sản phù hợp với nuôi hồ chứa.
Đề án cũng nhấn mạnh việc phát triển hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, bao gồm bến cá, kho lạnh, cơ sở cung ứng giống và trung tâm chế biến gắn với vùng nuôi. Cùng với đó, các sản phẩm thủy sản hồ chứa sẽ được xây dựng thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu và hướng tới đạt các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, ASC hoặc OCOP…
Mặt khác, thực hiện thí điểm mô hình đồng quản lý trong nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng dẫn của FAO về quản trị nghề cá và nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng; xác định rõ quyền, trách nhiêm và lợi ích của Nhà nước – cộng đồng – đơn vị quản lý hồ chứa; đánh giá, hoàn thiên cơ chế pháp lý để áp dụng, nhân rộng đối với các hồ chứa lớn.
Một điểm đáng chú ý khác của đề án này là khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế tổng hợp, kết hợp nuôi trồng thủy sản với du lịch sinh thái, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa cộng đồng, qua đó gia tăng giá trị trên cùng một diện tích mặt nước.
Đặc biệt, đề án phải bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và an toàn công trình thủy lợi, thủy điện. Việc phân vùng nuôi sẽ được thực hiện chặt chẽ, không bố trí nuôi tại khu vực hành lang xả lũ, gần đập hoặc các khu vực nhạy cảm. Các địa phương sẽ phải rà soát, phân loại hồ chứa, xác định rõ khu vực được phép nuôi, khu vực hạn chế hoặc cấm nuôi. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm nhằm bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về môi trường, tài nguyên nước và an toàn công trình.
Với các mục tiêu cụ thể và hệ thống giải pháp đồng bộ, Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 – 2030 được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển thủy sản quốc gia, góp phần cải thiện đời sống người dân vùng nông thôn, miền núi trong thời gian tới.
Phan Thảo